close

BẢN DỊCH TÔNG HUẤN DILEXI TE CỦA ĐTC LÊÔ XIV – CHƯƠNG III – MỘT HỘI THÁNH DÀNH CHO NGƯỜI NGHÈO

Ngày đăng: 15/10/2025 Lượt xem: 235 Chuyên mục: ĐTC LÊÔ XIV

CHƯƠNG BA – MỘT HỘI THÁNH DÀNH CHO NGƯỜI NGHÈO

35. Ba ngày sau khi được bầu chọn, vị tiền nhiệm của tôi đã nói với các đại diện truyền thông về ước mong của ngài: rằng việc chăm sóc và quan tâm đến người nghèo phải trở nên hiện diện rõ ràng hơn trong đời sống Hội Thánh. Ngài nói: “Tôi mong có một Hội Thánh nghèo và dành cho người nghèo.”[i]

36. Ước mong ấy phản ánh xác tín rằng “Hội Thánh nhận ra nơi những người nghèo và những người đau, khổ hình ảnh của Đấng sáng lập mình, Đấng đã sống nghèo và chịu đau khổ.”[ii] Quả thật, vì Hội Thánh được mời gọi để đồng hóa chính mình với những người bé mọn nhất, nên trong cốt lõi của mình, “không thể có chỗ cho sự nghi ngờ hay những cách giải thích làm suy yếu sứ điệp quá rõ ràng này… Chúng ta phải nói thẳng thắn rằng có một mối dây liên kết không thể tách rời giữa đức tin của chúng ta và người nghèo.”[iii] Về điều này, chúng ta có biết bao chứng nhân, là các môn đệ của Đức Kitô trải suốt gần hai ngàn năm.[iv]

Những kho tàng thật sự của Hội Thánh

37. Thánh Phaolô kể lại rằng, trong cộng đoàn Kitô hữu đầu tiên, “không nhiều người khôn ngoan theo tiêu chuẩn thế gian, không nhiều người quyền thế, cũng không nhiều người xuất thân cao quý” (1 Cr 1:26). Tuy nhiên, dù sống trong cảnh nghèo, các Kitô hữu tiên khởi vẫn ý thức sâu sắc về bổn phận chăm sóc những người túng thiếu nhất. Ngay từ buổi đầu của Kitô giáo, các Tông đồ đã đặt tay trên bảy người được chọn trong cộng đoàn và giao cho họ sứ vụ phục vụ — diakonía theo tiếng Hy Lạp — dành riêng cho người nghèo (x. Cv 6:1–5). Thật đáng chú ý, người môn đệ đầu tiên làm chứng cho đức tin bằng chính máu mình là Thánh Stêphanô, người thuộc nhóm ấy. Nơi ngài, việc phục vụ người nghèo và chứng tá tử đạo đã được kết hợp nên một.

38. Gần hai thế kỷ sau, một phó tế khác — Thánh Laurensô — cũng bày tỏ lòng trung thành với Đức Kitô bằng cách kết hợp việc phục vụ người nghèo với chứng tá tử đạo.[v] Theo lời Thánh Ambrôsiô, Laurensô là phó tế tại Rôma dưới thời Đức Giáo hoàng Sixtus II. Khi bị chính quyền Rôma buộc phải giao nộp “kho tàng của Hội Thánh,” hôm sau, ngài dẫn theo đoàn người nghèo đến trước mặt họ. Khi bị hỏi kho tàng đã hứa ở đâu, ngài chỉ vào họ và nói: “Đây là kho tàng của Hội Thánh.”[vi] Khi kể lại sự kiện ấy, Thánh Ambrôsiô hỏi: “Chúa Giêsu có kho tàng nào quý giá hơn chính những người mà Ngài vui thích tỏ mình ra nơi họ chăng?”[vii] Và khi nhắc rằng các thừa tác viên của Hội Thánh không bao giờ được phép lơ là việc chăm sóc người nghèo, càng không được tích trữ của cải cho riêng mình, ngài nói: “Nhiệm vụ ấy phải được thực hiện với đức tin chân thành và sự khôn ngoan sáng suốt. Nếu ai trục lợi cho bản thân thì người ấy phạm tội; nhưng nếu dùng của cải ấy để giúp người nghèo hay chuộc lại tù nhân, thì người ấy đang thực thi một việc của lòng thương xót.”[viii]

Các Giáo phụ và người nghèo

39. Ngay từ những thế kỷ đầu, các Giáo phụ đã nhận ra rằng người nghèo là con đường ưu tiên để gặp gỡ Thiên Chúa. Việc thực thi lòng bác ái đối với người túng thiếu không chỉ được xem như một nhân đức luân lý, mà còn là biểu hiện cụ thể của đức tin nơi Ngôi Lời Nhập Thể. Cộng đoàn tín hữu, được nâng đỡ bởi sức mạnh Thánh Thần, được xây dựng trên nền tảng gần gũi với người nghèo — không phải coi họ như phần phụ thêm, mà như một phần thiết yếu trong Thân Thể sống động của Đức Kitô. Chẳng hạn, khi trên đường đi chịu tử đạo, Thánh Ignatiô thành Antiôkia đã nhắn nhủ cộng đoàn ở Smyrna đừng quên thi hành lòng bác ái đối với những người cần giúp đỡ nhất, và cảnh báo họ đừng bắt chước những ai chống lại Thiên Chúa: “Anh em hãy xem những kẻ có quan điểm khác với ân sủng Đức Kitô đã đến với chúng ta, xem họ chống lại thánh ý Thiên Chúa biết bao! Họ không biết đến tình yêu, không quan tâm đến người góa bụa, mồ côi, người bị áp bức, người nô lệ hay người tự do, người đói hay người khát.”[ix] Còn Thánh Pôlycarp, Giám mục thành Smyrna, cũng dạy rõ rằng các thừa tác viên của Hội Thánh phải chăm lo cho người nghèo: “Các linh mục hãy có lòng nhân hậu và xót thương với mọi người, đưa những kẻ lạc đường trở về, thăm viếng người bệnh, đừng quên người góa phụ, trẻ mồ côi hay người nghèo, nhưng luôn chu toàn điều đẹp lòng Thiên Chúa và con người.”[x] Từ hai chứng nhân này, ta thấy hình ảnh Hội Thánh như người mẹ của người nghèo, một nơi đón tiếp và thực thi công bình.

40. Về phần mình, Thánh Giúttinô Tử đạo, trong Lời biện giáo thứ nhất gửi Hoàng đế Adrian, Thượng viện và dân Rôma, đã giải thích rằng các Kitô hữu chia sẻ tất cả những gì họ có cho người túng thiếu, vì họ nhìn thấy nơi đó những người anh chị em trong Đức Kitô. Khi mô tả việc cộng đoàn cử hành phụng vụ vào ngày Chúa nhật, ngài nhấn mạnh rằng trong trung tâm của phụng vụ Kitô giáo, không thể tách rời việc thờ phượng Thiên Chúa khỏi sự quan tâm dành cho người nghèo. Vì thế, trong buổi cử hành, “những ai khá giả và tự nguyện thì dâng góp theo khả năng; tất cả những gì được quyên góp được trao cho vị chủ tọa, người này sẽ dùng để trợ giúp các trẻ mồ côi, các bà góa, những người bệnh tật hay gặp hoạn nạn, những người bị giam cầm, những khách lạ tạm cư giữa chúng ta, và nói chung là chăm sóc tất cả những ai đang cần giúp đỡ.”[xi] Điều đó cho thấy rằng Hội Thánh sơ khai không tách biệt đức tin khỏi hành động xã hội: một đức tin không được thể hiện bằng hành động cụ thể thì bị xem là đức tin chết, như Thánh Giacôbê đã dạy (x. Gc 2:17).

Thánh Gioan Kim Khẩu

41. Trong số các Giáo phụ phương Đông, có lẽ vị giảng thuyết hăng say nhất về công bằng xã hội chính là Thánh Gioan Kim Khẩu, Tổng Giám mục thành Constantinopolis từ cuối thế kỷ thứ ba trăm đến đầu thế kỷ thứ bốn trăm. Trong các bài giảng của mình, ngài không ngừng kêu gọi các tín hữu nhận ra Đức Kitô nơi những người túng thiếu, khi nói: “Bạn có muốn tôn kính Thân Thể Đức Kitô không? Đừng để thân thể ấy bị khinh miệt nơi những chi thể của Người, nghĩa là nơi những người nghèo không có áo để che thân. Đừng tôn vinh thân thể Đức Kitô trong nhà thờ bằng lụa là gấm vóc, trong khi ở ngoài kia bạn lại bỏ mặc Người đang chịu rét và trần trụi. Thân thể Đức Kitô trên bàn thờ không cần áo choàng, nhưng cần những tâm hồn trong sạch; còn thân thể Đức Kitô ngoài kia thì cần được chăm sóc tận tình. Hãy học biết suy nghĩ và tôn kính Đức Kitô theo cách Người mong muốn. Sự tôn kính đẹp lòng Người nhất chính là làm điều Người muốn, chứ không phải điều ta tự nghĩ ra. Vậy bạn cũng hãy tôn kính Người theo cách Người truyền dạy, và để người nghèo được hưởng nhờ từ của cải của bạn. Thiên Chúa không cần những chén vàng, nhưng cần những tâm hồn vàng.”[xii] Với lời lẽ trong sáng và thẳng thắn, Thánh Gioan Kim Khẩu khẳng định rằng nếu tín hữu không gặp gỡ Đức Kitô nơi người nghèo đang đứng ngoài cửa, họ cũng sẽ không thể thờ phượng Người ngay cả trên bàn thờ. Ngài tiếp tục nói: “Đức Kitô được gì khi bàn thờ đầy những chén vàng, còn chính Người thì chết đói trong thân phận người nghèo? Hãy nuôi kẻ đói trước đã, rồi sau đó mới tô điểm bàn thờ bằng những gì còn lại.”[xiii] Như thế, Thánh Gioan Kim Khẩu hiểu bí tích Thánh Thể như một biểu hiện sống động của lòng bác ái và công bằng, vốn phải được thể hiện trước khi và cùng với việc cử hành phụng vụ. Chính lòng bác ái và công bằng ấy phải được tiếp nối sau Thánh Lễ, qua tình yêu thương và sự chăm sóc dành cho người nghèo.

42. Do đó, lòng bác ái không phải là một tùy chọn, mà là điều kiện thiết yếu của việc thờ phượng chân thật. Thánh Gioan Kim Khẩu mạnh mẽ lên án sự giàu có quá mức đi đôi với thái độ dửng dưng trước người nghèo. Ngài cho rằng, việc quan tâm đến họ không chỉ là một yêu cầu xã hội, mà là điều kiện để được cứu độ, và chính của cải bất chính sẽ trở thành gánh nặng lên án người sở hữu nó. Ngài nói: “Trời lạnh giá, và người nghèo nằm đó trong rách nát, sắp chết cóng, run rẩy, với dáng vẻ và y phục đáng khiến bạn động lòng thương. Còn bạn, mặt đỏ gay vì rượu, cứ thế bước qua. Làm sao bạn có thể mong Thiên Chúa cứu bạn khỏi tai ương? Bạn thường trang điểm cho một xác chết lạnh lẽo, không còn biết danh dự là gì, bằng bao nhiêu áo quần sặc sỡ dát vàng, trong khi lại khinh rẻ kẻ đang sống, đang đau đớn, bị xé nát bởi đói và rét.” [xiv] Với cảm thức sâu xa về công bằng xã hội, ngài quả quyết: “Không chia sẻ cho người nghèo chính là ăn trộm của họ, là tước đoạt sự sống của họ, vì những gì chúng ta có thật ra thuộc về họ.”[xv]

Thánh Âutinh

43. Người hướng dẫn thiêng liêng của Thánh Âutinh là Thánh Ambrôsiô, người luôn nhấn mạnh đến bổn phận luân lý phải chia sẻ của cải vật chất: “Những gì anh trao cho người nghèo không phải là của anh, mà là của họ. Tại sao anh lại chiếm đoạt những gì vốn được Thiên Chúa ban cho để dùng chung?”[xvi] Đối với vị Giám mục thành Milan, bố thí không phải là hành động thương hại hay ban ơn, mà là sự công bằng được tái lập. Trong lời giảng, lòng thương xót nơi ngài mang một chiều kích tiên tri: ngài lên án những cơ cấu tích trữ của cải và khẳng định lại ơn gọi hiệp thông của Hội Thánh.

44. Được đào luyện trong truyền thống ấy, Thánh Âutinh, Giám mục thành Hippo, đã giảng dạy về tình yêu ưu tiên dành cho người nghèo. Là một mục tử tỉnh thức và nhà thần học uyên thâm, ngài hiểu rằng sự hiệp thông đích thực trong Hội Thánh cũng được diễn tả qua việc hiệp thông của cải. Trong các chú giải Thánh Vịnh, ngài nhắc rằng người Kitô hữu chân thật không thể thờ ơ với những ai thiếu thốn nhất: “Khi quan sát anh chị em mình, anh biết họ có túng thiếu không; nhưng nếu Đức Kitô ở trong anh, thì hãy tỏ lòng nhân hậu cả với những người xa lạ.”[xvii] Sự chia sẻ ấy, vì thế, phát sinh từ đức ái thần linh, và mục đích tối hậu của nó là tình yêu Đức Kitô. Với Âutinh, người nghèo không chỉ là đối tượng để giúp đỡ, mà là sự hiện diện mang tính bí tích của chính Thiên Chúa.

45. Vị “Tiến sĩ của Ân sủng” coi việc chăm sóc người nghèo là bằng chứng cụ thể của một đức tin chân thật. Ai nói rằng mình yêu mến Thiên Chúa mà không có lòng trắc ẩn với người túng thiếu thì là nói dối (x. 1 Ga 4:20). Khi suy niệm về cuộc gặp gỡ giữa Đức Giêsu và người thanh niên giàu có, cùng lời hứa “kho tàng trên trời” dành cho những ai chia sẻ tài sản cho người nghèo (x. Mt 19:21), Thánh Âutinh đã đặt những lời sau đây vào miệng Chúa: “Ta nhận từ con đất, và Ta sẽ ban lại trời; Ta nhận từ con của cải trần thế, và Ta sẽ hoàn lại cho con phúc lộc vĩnh hằng; Ta nhận bánh, và Ta sẽ ban sự sống… Ta đã được con đón tiếp, và Ta sẽ ban cho con một mái nhà; Ta được thăm khi bệnh tật, và Ta sẽ ban cho con sức khỏe; Ta được viếng thăm trong ngục tù, và Ta sẽ ban cho con tự do. Chiếc bánh mà con trao cho người nghèo của Ta đã được tiêu dùng, nhưng chiếc bánh Ta ban cho con không chỉ làm con no thoả, mà còn không bao giờ cạn.”[xviii] Thiên Chúa Toàn Năng sẽ không bao giờ để mình thua kém trong lòng quảng đại đối với những ai phục vụ người khốn khó nhất: càng yêu thương người nghèo, phần thưởng từ Thiên Chúa càng lớn lao.

46. Cái nhìn mang chiều kích Kitô học và thấm đẫm tinh thần Hội Thánh ấy cho thấy rằng của dâng khi phát xuất từ tình yêu không chỉ giúp người túng thiếu, mà còn thanh luyện tâm hồn người trao tặng, nếu họ sẵn sàng để được biến đổi. Thật vậy, theo lời được gán cho thánh Âutinh: “Việc bố thí có thể mang lại lợi ích cho con trong việc xóa bỏ tội lỗi quá khứ, nếu con đã thay đổi đời sống mình.”[xix] Nói cách khác, bố thí là con đường hoán cải thường hằng cho những ai muốn bước theo Đức Kitô bằng một trái tim không chia sẻ.

47. Trong một Hội Thánh nhận ra nơi người nghèo dung nhan của Đức Kitô, và nơi của cải vật chất là phương tiện để thi hành đức ái, tư tưởng của Thánh Âutinh vẫn là một ánh sáng chắc chắn soi đường. Trung thành với giáo huấn của ngài hôm nay không chỉ có nghĩa là học hỏi trước tác của ngài, mà còn là sẵn sàng sống triệt để lời mời gọi hoán cải của ngài, vốn luôn bao hàm việc phục vụ trong đức ái.

48. Nhiều vị Giáo phụ khác, cả Đông phương lẫn Tây phương, cũng đã nói về tầm quan trọng hàng đầu của việc chăm sóc người nghèo trong đời sống và sứ vụ của mỗi Kitô hữu. Từ viễn tượng ấy, có thể tóm lại rằng thần học của các Giáo phụ luôn mang tính thực hành, hướng đến một Hội Thánh nghèo và dành cho người nghèo, luôn nhắc nhớ rằng Tin Mừng chỉ được loan báo cách trung thực khi thúc đẩy chúng ta chạm đến thân phận của những người bé nhỏ nhất, và cảnh báo rằng sự cứng nhắc trong giáo lý mà không có lòng thương xót thì chỉ là những lời rỗng tuếch.

Chăm sóc người bệnh

49. Lòng trắc ẩn Kitô giáo đã được thể hiện cách đặc biệt qua việc chăm sóc người đau yếu và khổ đau. Dựa trên những dấu chỉ trong sứ vụ công khai của Đức Giêsu — việc Ngài chữa lành người mù, người phong và người bại liệt — Hội Thánh hiểu rằng việc chăm sóc người bệnh, nơi đó Hội Thánh nhận ra dung nhan của Thiên Chúa chịu đóng đinh, là một phần quan trọng trong sứ mạng của mình. Trong thời kỳ dịch bệnh hoành hành tại thành Carthage, nơi ngài làm Giám mục, Thánh Cyprian đã nhắc các Kitô hữu về tầm quan trọng của việc chăm sóc bệnh nhân: “Dịch bệnh và ôn dịch này, tuy khủng khiếp và chết chóc, lại đang thử thách sự chính trực của từng người, và thăm dò tâm trí của nhân loại, để xem người khỏe mạnh có phục vụ kẻ ốm đau không; người thân có thật lòng yêu thương nhau không; chủ có biết thương xót đầy tớ bệnh tật của mình không; và bác sĩ có bỏ rơi những người bệnh đang kêu cầu giúp đỡ không.” [xx] Truyền thống Kitô giáo về việc thăm viếng người bệnh, rửa sạch vết thương, và an ủi kẻ đau khổ không đơn thuần là một việc từ thiện, mà là một hành động mang tính Giáo Hội, qua đó các tín hữu chạm vào chính thân mình đau khổ của Đức Kitô.[xxi]

50. Vào thế kỷ mười sáu, Thánh Gioan Thiên Chúa đã sáng lập Dòng Trợ Thế Gioan Thiên Chúa, thiết lập những bệnh viện mẫu mực đón nhận mọi người, bất kể địa vị xã hội hay hoàn cảnh kinh tế. Câu nói nổi tiếng của ngài — “Hỡi anh em, hãy làm điều thiện!” — đã trở thành khẩu hiệu cho lòng bác ái hành động nơi người bệnh. Cùng thời ấy, Thánh Camillô de Lellis sáng lập Dòng Thừa Sai Phục Vụ Người Bệnh (Camillô), nhận lấy sứ mạng phục vụ bệnh nhân bằng trọn vẹn con tim. Quy luật của dòng ghi rõ: “Mỗi người phải xin Chúa ban cho mình một tình cảm như của người mẹ dành cho tha nhân, để chúng ta có thể phục vụ họ bằng tất cả lòng mến, cả hồn lẫn xác; vì chúng ta mong, nhờ ơn Chúa, được phục vụ tất cả người bệnh với tình thương mà người mẹ hiền dành cho đứa con duy nhất đang đau yếu.”[xxii] Trên các chiến trường, trong bệnh viện, nhà tù hay ngoài đường phố, các tu sĩ Camillô đã trở thành hiện thân của lòng thương xót của Đức Kitô, Vị Thầy Thuốc Nhân Từ.

51. Với tình thương như của người mẹ, biết bao nữ tu đã đóng góp vai trò lớn lao trong việc chăm sóc sức khỏe cho người nghèo. Các Nữ tử Bác ái của Thánh Vinh Sơn Phaolô, Các Nữ tu Phục vụ Bệnh viện, Các Nữ tu Quan Phòng, cùng nhiều hội dòng nữ khác, đã trở nên một sự hiện diện âm thầm nhưng đầy mẫu tử trong các bệnh viện, viện dưỡng lão và nhà chăm sóc người cao tuổi. Các chị đã đem đến sự an ủi, lắng nghe, hiện diện và trên hết là sự dịu dàng. Nhiều người trong số họ tự tay xây dựng những cơ sở y tế ở những nơi thiếu thốn chăm sóc. Họ dạy người dân giữ vệ sinh, đỡ đẻ, và phát thuốc với sự khôn ngoan tự nhiên và đức tin sâu sắc. Các ngôi nhà của họ trở thành ốc đảo của phẩm giá, nơi không ai bị loại trừ. Và sự chạm đến đầy cảm thông chính là liều thuốc đầu tiên. Thánh Louise de Marillac đã viết cho các chị em của mình — Các Nữ tử Bác ái — để nhắc họ rằng: “Anh chị em đã được Thiên Chúa đặc biệt chúc phúc để phục vụ những người bệnh nghèo trong các bệnh viện.”[xxiii]

52. Hôm nay, di sản ấy vẫn đang được tiếp nối trong các bệnh viện Công giáo, những cơ sở y tế vùng sâu vùng xa, các phòng khám giữa rừng, những mái ấm cho người nghiện ma túy, và các bệnh viện dã chiến nơi chiến tuyến. Sự hiện diện Kitô giáo giữa người bệnh chứng tỏ rằng ơn cứu độ không phải là một ý niệm trừu tượng, mà là hành động cụ thể. Trong từng cử chỉ chữa lành vết thương, Hội Thánh loan báo rằng Nước Thiên Chúa bắt đầu từ nơi những người dễ tổn thương nhất. Khi Hội Thánh quỳ xuống bên người phong cùi, đứa trẻ suy dinh dưỡng, hay một người hấp hối vô danh, chính khi ấy, Hội Thánh đang sống trọn ơn gọi sâu thẳm nhất của mình: yêu mến Chúa nơi Ngài bị biến dạng nhất.

Chăm sóc người nghèo trong đời sống đan tu

53. Đời sống đan tu, vốn khởi nguồn từ sự thinh lặng của sa mạc, ngay từ đầu đã là một chứng tá của tình liên đới. Các tu sĩ nam nữ rời bỏ tất cả — của cải, danh vọng, gia đình — không chỉ vì khinh chê của thế gian (contemptus mundi), mà còn để gặp gỡ Đức Kitô nghèo khó trong sự từ bỏ triệt để ấy. Thánh Basiliô Cả, trong Quy luật Dòng của ngài, không hề xem có mâu thuẫn giữa đời sống cầu nguyện chiêm niệm và việc phục vụ người nghèo. Với ngài, lòng hiếu khách và việc chăm sóc người túng thiếu là phần thiết yếu của linh đạo đan tu. Dù đã bỏ mọi sự để sống nghèo, các tu sĩ vẫn phải lao động để có thể giúp người nghèo hơn mình, vì — như Thánh Basiliô dạy — “để có đủ mà giúp người túng thiếu… rõ ràng chúng ta phải siêng năng làm việc. Cách sống này không chỉ hữu ích trong việc chế ngự thân xác, mà còn là biểu hiện của đức ái đối với tha nhân, nhờ đó Thiên Chúa có thể qua chúng ta mà ban đủ cho những anh chị em yếu đuối hơn.”[xxiv]

54. Tại thành Caesarea, nơi ngài làm Giám mục, Thánh Basiliô đã xây dựng một khu phức hợp được gọi là “Basiliad”, bao gồm nhà trọ, bệnh viện và trường học dành cho người nghèo và bệnh nhân. Do đó, người tu sĩ không chỉ là người khổ hạnh, mà còn là người phục vụ. Qua đó, Thánh Basiliô chứng minh rằng muốn đến gần Thiên Chúa, phải đến gần người nghèo. Tình yêu cụ thể chính là tiêu chuẩn của sự thánh thiện. Cầu nguyện và chăm sóc, chiêm niệm và chữa lành, viết lách và đón tiếp — tất cả đều là biểu hiện của cùng một tình yêu dành cho Đức Kitô.

55. Ở phương Tây, Thánh Biển Đức thành Norcia đã soạn ra một Quy luật Dòng trở thành nền tảng của linh đạo đan tu châu Âu. Việc đón tiếp người nghèo và khách hành hương chiếm một vị trí quan trọng trong quy luật ấy: “Người nghèo và khách hành hương phải được đón tiếp với tất cả sự chăm sóc và lòng hiếu khách, vì nơi họ chính Đức Kitô được đón nhận.”[xxv] Những lời ấy không chỉ là lý thuyết: trong suốt nhiều thế kỷ, các đan viện Biển Đức đã trở thành nơi trú ngụ cho các bà góa, trẻ bị bỏ rơi, khách hành hương và người ăn xin. Với Thánh Biển Đức, đời sống cộng đoàn là một trường học của đức ái. Lao động tay chân không chỉ là việc thực tế, mà còn là phương tiện huấn luyện con tim biết phục vụ. Việc chia sẻ của cải, chăm sóc người bệnh, lắng nghe kẻ yếu đuối giúp họ chuẩn bị tâm hồn để đón Đức Kitô, Đấng đến nơi người nghèo và người xa lạ. Đến nay, lòng hiếu khách Biển Đức vẫn là dấu chỉ của một Hội Thánh mở cửa, đón tiếp không đòi hỏi, và chữa lành không mong đáp trả.

56. Theo thời gian, các đan viện Biển Đức đã trở thành nơi vượt thắng nền văn hóa loại trừ. Các tu sĩ canh tác đất đai, sản xuất lương thực, bào chế thuốc men và trao tặng cách đơn sơ cho những ai túng thiếu nhất. Công việc âm thầm của họ là men của một nền văn minh mới, nơi người nghèo không bị xem là vấn đề cần giải quyết, mà là anh chị em cần được đón nhận. Quy tắc chia sẻ, làm việc chung và giúp đỡ người yếu đuối đã hình thành một nền kinh tế hiệp thông, trái ngược với não trạng tích trữ. Chứng tá của các tu sĩ cho thấy rằng sự nghèo khó tự nguyện, thay vì là khổ sở, lại là con đường dẫn đến tự do và hiệp nhất. Họ không chỉ giúp người nghèo — họ trở nên người thân cận của họ, trở thành anh chị em trong cùng một Chúa. Trong các phòng nguyện và tu viện, họ đã kiến tạo một linh đạo về sự hiện diện của Thiên Chúa nơi những kẻ bé nhỏ.

57. Bên cạnh việc trợ giúp vật chất, các đan viện còn đóng vai trò nền tảng trong việc giáo dục và đào luyện tinh thần cho những người khiêm hạ nhất. Trong thời kỳ dịch bệnh, chiến tranh và nạn đói, đan viện là nơi người túng thiếu tìm được bánh, thuốc men, phẩm giá và tiếng nói. Ở đó, trẻ mồ côi được dạy dỗ, người học việc được huấn luyện, và người dân được học kỹ thuật nông nghiệp cùng cách đọc chữ. Kiến thức được chia sẻ như một hồng ân và một trách nhiệm. Vị viện phụ vừa là thầy dạy vừa là người cha, và trường đan tu là nơi dẫn đến tự do qua chân lý. Thật vậy, như Gioan Cassian đã viết: người tu sĩ phải được ghi dấu bởi “sự khiêm nhường của con tim… không dẫn đến thứ kiến thức khiến người ta tự cao, mà là hiểu biết soi sáng nhờ sự viên mãn của đức ái.”[xxvi] Bằng việc huấn luyện lương tâm và truyền đạt khôn ngoan, các tu sĩ đã góp phần xây dựng một nền sư phạm Kitô giáo của sự bao dung. Văn hóa được thấm đẫm đức tin và được chia sẻ cách đơn sơ. Tri thức, được soi sáng bởi đức ái, trở thành một hình thức phục vụ. Nhờ đó, đời sống đan tu trở thành một lối sống thánh thiện cụ thể và là cách biến đổi xã hội từ bên trong.

58. Truyền thống đan tu dạy ta rằng cầu nguyện và bác ái, thinh lặng và phục vụ, phòng nguyện và bệnh viện là những sợi chỉ dệt nên cùng một tấm vải thiêng liêng. Đan viện là nơi vừa lắng nghe vừa hành động, vừa thờ phượng vừa sẻ chia. Thánh Bernard thành Clairvaux, vị đại cải tổ của Dòng Xitô, “luôn nhấn mạnh đến nhu cầu sống điều độ và giản dị, cả trong phòng ăn, y phục và kiến trúc, đồng thời khuyên phải nâng đỡ và chăm sóc người nghèo.”[xxvii] Với ngài, lòng thương xót không phải là một lựa chọn, mà là con đường đích thực để bước theo Đức Kitô. Vì thế, đời sống đan tu, khi trung thành với ơn gọi ban đầu, cho thấy rằng Hội Thánh chỉ thật sự là Hiền Thê của Chúa khi cũng là người chị em của người nghèo. Tu viện không chỉ là nơi ẩn mình khỏi thế gian, mà là trường học để phục vụ thế giới tốt hơn. Nơi nào các tu sĩ mở cửa cho người nghèo, Hội Thánh nơi đó đã khiêm tốn và mạnh mẽ tỏ lộ rằng chiêm niệm không loại trừ lòng thương xót, mà chính lòng thương xót là hoa trái tinh tuyền nhất của chiêm niệm.

Giải thoát tù nhân

59. Từ thời các Tông đồ, Hội Thánh đã coi việc giải thoát những người bị áp bức là một dấu chỉ của Nước Thiên Chúa. Chính Đức Giêsu, ngay khi khởi đầu sứ vụ công khai, đã công bố: “Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, sai tôi đi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo khó; sai tôi đi công bố sự giải thoát cho kẻ bị giam cầm” (Lc 4:18). Ngay trong những hoàn cảnh bấp bênh, các Kitô hữu tiên khởi vẫn cầu nguyện và nâng đỡ những anh chị em bị tù đày, như Sách Công vụ Tông đồ (x. Cv 12:5; 24:23) và nhiều tác phẩm của các Giáo phụ đã làm chứng. Sứ mạng giải thoát này đã tiếp tục xuyên suốt các thế kỷ, qua những hành động cụ thể, đặc biệt trong những thời đại mà thảm kịch của nô lệ và tù tội đã bao trùm toàn xã hội.

60. Vào cuối thế kỷ mười hai và đầu thế kỷ mười ba, khi nhiều Kitô hữu bị bắt trong các cuộc chiến ở Địa Trung Hải hoặc bị biến thành nô lệ, hai dòng tu mới đã ra đời: Dòng Chí Thánh Ba Ngôi và Giải Phóng Tù Nhân (Dòng Trinitari), do Thánh Gioan de Matha và Thánh Felix de Valois sáng lập;và Dòng Đức Mẹ Nhân Lành (Dòng Mercedari), do Thánh Phêrô Nolasco thành lập với sự nâng đỡ của Thánh Raimundô de Peñafort, dòng Đa Minh. Hai cộng đoàn này được khai sinh với đặc sủng cụ thể là giải thoát những Kitô hữu bị bắt làm nô lệ, sẵn sàng dâng hiến của cải của mình cho những người bị giam cầm[xxviii], và nhiều lần chính họ đã hiến cả mạng sống để đổi lấy tự do cho người khác. Các tu sĩ Trinitari lấy khẩu hiệu “Vinh danh Ba Ngôi Chí Thánh, và tự do cho những người bị giam cầm” (Gloria tibi Trinitas et captivis libertas), còn các tu sĩ Mercedari thì thêm một lời khấn thứ tư[xxix] bên cạnh ba lời khấn truyền thống là khó nghèo, khiết tịnh và vâng phục — một dấu chỉ rằng đức ái có thể đạt đến mức anh hùng. Việc giải thoát tù nhân là biểu hiện của tình yêu Ba Ngôi: Thiên Chúa giải phóng con người không chỉ khỏi xiềng xích thiêng liêng, mà cả những áp bức hữu hình. Hành động cứu thoát một người khỏi cảnh nô lệ hay tù tội được xem là sự nối dài của hy tế cứu độ Đức Kitô, Đấng đã đổ máu mình làm giá chuộc cho chúng ta (x. 1 Cr 6:20).

61. Linh đạo nguyên thủy của các dòng tu này được bén rễ sâu trong chiêm niệm thập giá. Đức Kitô là Đấng Cứu Chuộc các tù nhân tuyệt hảo nhất, và Hội Thánh — Thân Thể của Người — kéo dài mầu nhiệm ấy trong thời gian.[xxx] Đối với các tu sĩ, việc chuộc người không chỉ là hành động chính trị hay kinh tế, mà là một cử hành phụng vụ thiêng liêng, một hy lễ dâng chính bản thân mình. Nhiều người trong họ đã thực sự hiến thân thay cho tù nhân, sống trọn lời Chúa phán: “Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người hy sinh mạng sống vì bạn hữu mình” (Ga 15:13). Truyền thống ấy không chấm dứt, trái lại, tiếp tục gợi hứng cho những hình thức dấn thân mới trước những hình thái nô lệ hiện đại: nạn buôn người, lao động cưỡng bức, bóc lột tình dục, và các hình thức lệ thuộc khác.[xxxi] Lòng bác ái Kitô giáo chỉ thật sự giải phóng khi trở thành hiện thực nơi thân phận con người. Cũng vậy, sứ mạng của Hội Thánh, khi trung thành với Chúa mình, luôn là loan báo tự do. Ngay hôm nay, khi “hàng triệu người — trẻ em, phụ nữ và đàn ông ở mọi lứa tuổi — bị tước đoạt tự do và bị buộc phải sống trong những điều kiện giống như nô lệ,”[xxxii] di sản ấy vẫn được tiếp nối nơi các dòng Trinitari, Mercedari, và nhiều hội dòng, tổ chức Công giáo khác đang hoạt động trong các khu ổ chuột đô thị, vùng chiến sự, và dọc những tuyến di cư. Mỗi khi Hội Thánh cúi mình để bẻ gãy những xiềng xích mới đang trói buộc người nghèo, chính khi ấy Hội Thánh trở thành dấu chỉ của Mầu nhiệm Phục Sinh.

62. Ta không thể kết thúc suy tư này về những người bị tước đoạt tự do mà không nhắc đến những tù nhân trong các trại giam và trung tâm cải huấn. Về điều này, ta nhớ lại lời Đức Thánh Cha Phanxicô từng nói với một nhóm tù nhân: “Đối với tôi, mỗi lần bước vào nhà tù luôn là một giây phút quan trọng, bởi nhà tù là nơi mang đậm nhân tính… Một nhân tính bị thử thách, đôi khi bị bào mòn bởi gian khổ, tội lỗi, phán xét, hiểu lầm, và đau khổ, nhưng đồng thời lại tràn đầy sức mạnh, khao khát được tha thứ, và khát vọng được cứu chuộc.”[xxxiii] Khát vọng ấy, một cách nào đó, vẫn đang được các dòng tu chuyên lo hỗ trợ tù nhân tiếp tục thực hiện như một sứ vụ ưu tiên của Hội Thánh. Như Thánh Phaolô đã công bố: “Chính để cho chúng ta được tự do mà Đức Kitô đã giải thoát chúng ta” (Gl 5:1). Và sự tự do ấy không chỉ là tự do nội tâm, mà còn được thể hiện trong lịch sử, qua tình yêu biết quan tâm và giải thoát con người khỏi mọi xiềng xích nô lệ.

Chứng nhân của tinh thần nghèo khó Tin Mừng

63. Vào thế kỷ mười ba, trước bối cảnh đô thị hóa nhanh chóng, của cải tập trung và những hình thức nghèo đói mới xuất hiện, Chúa Thánh Thần đã khơi dậy trong Hội Thánh một hình thức thánh hiến mới: các dòng hành khất. Khác với mô hình đan tu ổn định, các tu sĩ hành khất chọn lối sống lang thang, không sở hữu của cải cá nhân hay cộng đoàn, và phó thác hoàn toàn vào sự quan phòng của Thiên Chúa. Họ không chỉ phục vụ người nghèo — họ trở nên nghèo cùng với họ. Họ nhìn thành phố như một sa mạc mới, và những người bị gạt ra bên lề như những bậc thầy thiêng liêng mới. Các dòng như Phanxicô, Đa Minh, Augustinô và Cát Minh đã mang lại một cuộc cách mạng Tin Mừng, trong đó lối sống đơn sơ và nghèo khó trở thành dấu chỉ ngôn sứ cho sứ mạng, khơi dậy nơi Hội Thánh kinh nghiệm sống của cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi (x. Cv 4:32). Chứng tá của họ thách đố sự xa hoa của hàng giáo sĩ và sự lạnh lùng vô cảm của xã hội đô thị.

64. Thánh Phanxicô thành Assisi đã trở thành biểu tượng của mùa xuân thiêng liêng này. Khi ôm lấy sự nghèo khó, ngài muốn bắt chước Đức Kitô — Đấng nghèo, trần trụi và chịu đóng đinh. Trong Quy luật Dòng, ngài viết: “Anh em đừng chiếm hữu bất cứ thứ gì — không nhà, không đất, không tài sản nào khác. Và như những khách hành hương, những người xa lạ trên thế gian này, phục vụ Thiên Chúa trong sự nghèo khó và khiêm nhường, anh em hãy đi xin ăn với lòng tín thác và đừng xấu hổ, vì chính Chúa đã trở nên nghèo vì chúng ta trong thế gian này.”[xxxiv] Đời sống của Thánh Phanxicô là một hành trình tự hạ liên lỉ: từ cung điện đến với người phong cùi, từ lời hùng biện đến thinh lặng, từ sở hữu đến trao ban trọn vẹn. Ngài không lập một tổ chức từ thiện, mà xây dựng một tình huynh đệ Tin Mừng. Nơi người nghèo, ngài nhìn thấy những người anh em, những hình ảnh sống động của Chúa. Sứ mạng của ngài là hiện diện với họ, bằng tình liên đới vượt qua mọi khoảng cách và một tình yêu đầy cảm thông. Sự nghèo khó của Phanxicô mang tính tương quan: nó khiến ngài trở thành người thân cận, bình đẳng — thậm chí nhỏ bé hơn người khác. Sự thánh thiện của ngài phát sinh từ xác tín rằng chỉ khi biết hiến mình cho anh chị em cách quảng đại, người ta mới thật sự đón nhận được Đức Kitô.

65. Thánh Clara thành Assisi, được linh hứng bởi Thánh Phanxicô, đã sáng lập Dòng Các Nữ Tu Khó Nghèo, sau này gọi là Dòng Clara Khó Nghèo. Cuộc chiến thiêng liêng của ngài là giữ trọn lý tưởng nghèo khó triệt để. Ngài từ chối những đặc ân của Giáo hoàng có thể bảo đảm sự an toàn vật chất cho tu viện, và với lòng can đảm, xin được Đức Giáo hoàng Grêgôriô IX ban cho “Đặc ân Nghèo khó” (Privilegium Paupertatis), bảo đảm quyền được sống không có của cải vật chất.[xxxv] Lựa chọn ấy diễn tả lòng tín thác hoàn toàn vào Thiên Chúa và ý thức rằng sự nghèo khó tự nguyện là một hình thức của tự do và ngôn sứ. Clara dạy các chị em rằng Đức Kitô là phần gia nghiệp duy nhất của họ, và không điều gì được phép che khuất mối hiệp thông với Ngài. Đời sống chiêm niệm và ẩn dật của Clara là một tiếng kêu thầm lặng chống lại thế tục, và một lời bênh vực âm thầm cho người nghèo và bị lãng quên.

66. Thánh Đa Minh de Guzmán, sống cùng thời với Phanxicô, đã sáng lập Dòng Giảng Thuyết (Dòng Đa Minh), với một đặc sủng khác nhưng cùng tinh thần triệt để. Ngài muốn rao giảng Tin Mừng bằng thẩm quyền phát sinh từ đời sống khó nghèo, tin chắc rằng Chân Lý cần có những chứng nhân liêm chính. Gương sống khó nghèo của họ là sự xác nhận hữu hình cho Lời họ rao giảng. Giải thoát khỏi gánh nặng vật chất, các tu sĩ Đa Minh có thể hoàn toàn dấn thân cho sứ vụ giảng dạy và rao giảng. Họ đến các thành phố, đặc biệt là các đại học, để loan truyền chân lý về Thiên Chúa.[xxxvi] Sống nhờ vào lòng quảng đại của người khác, họ chứng tỏ rằng đức tin không áp đặt, nhưng được trao tặng. Và khi sống giữa người nghèo, họ học biết chân lý của Tin Mừng “từ bên dưới”, như những môn đệ của Đức Kitô khiêm hạ.

67. Vì thế, các dòng hành khất là câu trả lời sống động trước sự loại trừ và dửng dưng. Họ không chủ trương cải cách xã hội bằng những chính sách, nhưng mời gọi từng người và từng cộng đoàn hoán cải theo lôgic của Nước Trời. Với họ, nghèo khó không phải là hậu quả của thiếu thốn vật chất, mà là một chọn lựa tự do: trở nên nhỏ bé để đón nhận những kẻ nhỏ bé. Như Tôma thành Celano nói về Phanxicô: “Ngài chứng tỏ rằng mình yêu người nghèo cách mãnh liệt… Ngài thường cởi áo mình để mặc cho người nghèo, những người mà ngài khao khát được giống họ.”[xxxvii] Những người hành khất ấy trở thành biểu tượng của một Hội Thánh lữ hành, khiêm nhường và huynh đệ, sống giữa người nghèo không phải để chiêu dụ, mà như một diễn tả chân thật về căn tính của mình. Họ dạy chúng ta rằng Hội Thánh chỉ thật sự tỏa sáng khi biết trút bỏ mọi sự, và sự thánh thiện chỉ có thể đi qua một trái tim khiêm nhu, tận hiến cho những người bé nhỏ nhất.

Hội Thánh và việc giáo dục của người nghèo

68. Khi nói với các nhà giáo dục, Đức Thánh Cha Phanxicô đã nhắc rằng giáo dục luôn là một trong những biểu hiện cao quý nhất của đức ái Kitô giáo: “Sứ mạng của anh chị em vừa đầy thử thách, vừa chan chứa niềm vui… Đó là một sứ mạng của tình yêu, bởi vì không thể dạy dỗ nếu không yêu thương.”[xxxviii] Theo nghĩa ấy, ngay từ thời cổ, các Kitô hữu đã hiểu rằng tri thức có sức giải thoát con người, mang lại phẩm giá và dẫn ta đến gần chân lý. Đối với Hội Thánh, dạy dỗ người nghèo là một hành động công bằng và đức tin. Noi gương Thầy Chí Thánh, Đấng đã dạy con người những chân lý thần linh và nhân loại, Hội Thánh đảm nhận sứ mạng giáo dục trẻ em và thanh thiếu niên — đặc biệt là những người nghèo nhất — trong chân lý và tình yêu. Sứ mạng ấy đã được thể hiện qua việc thành lập các hội dòng chuyên dấn thân cho việc giáo dục.

69. Vào thế kỷ mười sáu, Thánh Giuse Calasanz, khi chứng kiến tình trạng thiếu học và thiếu đào luyện của giới trẻ nghèo ở Rôma, đã thành lập ngôi trường công lập miễn phí đầu tiên ở châu Âu, trong vài căn phòng cạnh nhà thờ Thánh Dorotea tại khu Trastevere. Từ hạt giống nhỏ bé ấy, sau này hình thành Dòng Linh Mục Nghèo của Mẹ Thiên Chúa — Dòng Piarists, dù phải trải qua nhiều khó khăn. Mục tiêu của ngài là trao cho người trẻ không chỉ kiến thức thế gian, mà còn là sự khôn ngoan của Tin Mừng, “dạy họ nhận ra trong cuộc đời và trong dòng lịch sử, hành động yêu thương của Thiên Chúa Tạo Hóa và Cứu Chuộc.”[xxxix] Thật vậy, ta có thể coi vị linh mục can đảm này là “người sáng lập đích thực của trường học Công giáo hiện đại, nhằm đào luyện con người toàn diện và mở cửa cho mọi người.”[xl] Cũng với cùng tinh thần ấy, Thánh Gioan Battista de La Salle, nhận ra bất công xã hội khi con em của công nhân và dân nghèo bị loại khỏi hệ thống giáo dục Pháp, đã sáng lập Dòng Anh Em Các Trường Kitô giáo vào thế kỷ mười bảy, với lý tưởng mang lại giáo dục miễn phí, vững vàng và huynh đệ. Đối với thánh De La Salle, lớp học là nơi nuôi dưỡng con người nhưng cũng là nơi dẫn đến hoán cải. Trong các trường của ngài, lời cầu nguyện, phương pháp, kỷ luật và tinh thần chia sẻ hòa quyện với nhau. Mỗi trẻ em được xem là một quà tặng độc nhất của Thiên Chúa, và việc giảng dạy là một hình thức phục vụ Nước Trời.

70. Vào thế kỷ mười chín, cũng tại Pháp, Thánh Marcellin Champagnat sáng lập Hội Dòng Anh Em Marist. “Ngài rất nhạy bén trước nhu cầu thiêng liêng và giáo dục của thời đại, đặc biệt là tình trạng dốt nát về tôn giáo và sự bị bỏ rơi mà giới trẻ phải chịu.”[xli] Ngài đã dâng hiến trọn vẹn đời mình cho sứ mạng giáo dục và loan báo Tin Mừng cho trẻ em và thanh thiếu niên, nhất là những người nghèo bị gạt ra bên lề, trong thời kỳ giáo dục vẫn còn là đặc quyền của thiểu số. Cũng với tinh thần ấy, Thánh Gioan Bosco tại Ý đã khởi đầu công trình lớn lao của Dòng Salêdiêng, dựa trên ba nguyên tắc của “phương pháp dự phòng”: lý trí, đức tin và lòng nhân hậu.[xlii] Chân phước Antonio Rosmini thì sáng lập Hội Dòng Bác Ái, trong đó ngài đặt “đức ái trí thức” song hành với “đức ái vật chất”, và đặt “đức ái thiêng liêng – mục vụ” ở vị trí cao nhất, như một chiều kích không thể thiếu của bất cứ hành động bác ái nào hướng đến sự phát triển toàn diện của con người.[xliii]

71. Nhiều hội dòng nữ đã trở thành những người tiên phong trong cuộc cách mạng giáo dục này. Từ thế kỷ mười tám đến mười chín, Dòng Ursula, Dòng Nữ Tử Đức Mẹ, Dòng Nữ Maestre Pie, và nhiều dòng khác, đã bước vào những lãnh vực mà nhà nước còn vắng bóng. Họ xây dựng trường học ở làng mạc nhỏ, khu lao động và vùng ngoại ô. Đặc biệt, giáo dục cho các bé gái trở thành một ưu tiên hàng đầu. Các nữ tu dạy chữ cho trẻ em, loan báo Tin Mừng, hướng dẫn kỹ năng sống, khơi dậy tâm hồn qua nghệ thuật, và nhất là đào luyện lương tâm. Phương pháp sư phạm của họ đơn sơ: gần gũi, kiên nhẫn, dịu dàng. Họ dạy bằng chính đời sống của mình trước khi dạy bằng lời. Trong thời đại mù chữ phổ biến và loại trừ có hệ thống, những phụ nữ tận hiến ấy đã trở nên những ngọn hải đăng của hy vọng. Sứ mạng của họ là đào tạo con tim, dạy con người biết suy nghĩ và khơi dậy phẩm giá. Bằng đời sống đạo đức và hiến mình cho tha nhân, họ chống lại sự bỏ rơi bằng sự dịu dàng của người dạy dỗ nhân danh Đức Kitô.

72. Đối với đức tin Kitô giáo, việc giáo dục người nghèo không phải là ân huệ, mà là bổn phận. Trẻ em có quyền được học hỏi như một điều kiện thiết yếu để được công nhận phẩm giá con người. Dạy dỗ chúng là khẳng định giá trị của chúng, trao cho chúng những công cụ để biến đổi thực tại. Truyền thống Kitô giáo xem tri thức là hồng ân của Thiên Chúa và là trách nhiệm của cộng đoàn. Giáo dục Kitô giáo không chỉ đào tạo chuyên môn, mà còn hình thành con người biết mở lòng với điều thiện, cái đẹp và chân lý. Vì thế, các trường Công giáo, khi trung thành với ơn gọi của mình, phải là nơi bao dung, đào luyện toàn diện và phát triển nhân bản. Khi kết hợp đức tin và văn hóa, chúng gieo mầm cho tương lai, tôn vinh hình ảnh Thiên Chúa nơi con người và xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn.

Đồng hành với người di dân

73. Kinh nghiệm di dân gắn liền với lịch sử của Dân Thiên Chúa. Abraham ra đi mà không biết mình sẽ đến đâu; Môsê dẫn dân vượt qua sa mạc; Mẹ Maria và Thánh Giuse trốn sang Ai Cập cùng Hài Nhi Giêsu. Chính Đức Kitô, “Đấng đã đến nhà mình, mà người nhà chẳng đón nhận Người” (Ga 1:11), cũng đã sống giữa chúng ta như một người xa lạ. Vì thế, Hội Thánh luôn nhận ra nơi người di dân một sự hiện diện sống động của Chúa, Đấng mà trong ngày phán xét sẽ nói với những người bên hữu: “Ta là khách lạ, các ngươi đã đón tiếp Ta” (Mt 25:35).

74. Vào thế kỷ mười chín, khi hàng triệu người châu Âu rời quê hương tìm kiếm cuộc sống tốt đẹp hơn, hai vị thánh đã nổi bật trong việc chăm sóc mục vụ cho người di dân: Thánh Gioan Battista Scalabrini và Thánh Phanxicô Xaviê Cabrini. Đức cha Scalabrini, Giám mục Piacenza, đã sáng lập Dòng Truyền giáo Thánh Carlo (Scalabrini Missionaries) để đồng hành cùng người di dân trên hành trình của họ, giúp họ về mặt thiêng liêng, pháp lý và vật chất. Ngài xem người di dân là những đối tượng của một cuộc loan báo Tin Mừng mới, đồng thời cảnh báo nguy cơ bị bóc lột và mất đức tin nơi đất khách. Đáp lại cách quảng đại đặc sủng mà Thiên Chúa đã ban, “Scalabrini hướng ánh nhìn về một thế giới và một Hội Thánh không biên giới, nơi chẳng ai là người xa lạ.”[xliv] Thánh Phanxicô Xaviê Cabrini, sinh tại Ý và nhập quốc tịch Hoa Kỳ, là công dân đầu tiên của nước Mỹ được phong hiển thánh. Để hoàn thành sứ mạng phục vụ người di dân, ngài đã vượt Đại Tây Dương nhiều lần. “Với lòng can đảm phi thường, ngài đã khởi đầu từ con số không để xây dựng các trường học, bệnh viện và cô nhi viện cho hàng ngàn người nghèo liều mình đến Tân Thế Giới tìm kế sinh nhai. Không biết ngôn ngữ, thiếu thốn điều kiện để hội nhập vào xã hội Mỹ, họ thường trở thành nạn nhân của những kẻ bất lương. Trái tim người mẹ của Cabrini, không bao giờ được nghỉ ngơi, đã vươn tới họ khắp nơi: trong những căn lều tồi tàn, trong ngục tù và dưới hầm mỏ.” [xlv] Trong Năm Thánh 1950, Đức Piô XII đã tuyên phong Thánh Cabrini là Bổn Mạng của toàn thể người di dân.[xlvi]

75. Truyền thống phục vụ người di dân của Hội Thánh vẫn được tiếp nối đến hôm nay. Sứ vụ này được thể hiện qua nhiều sáng kiến cụ thể: các trung tâm tiếp nhận người tị nạn, những hoạt động mục vụ biên giới, các chương trình hỗ trợ của Caritas Quốc tế và nhiều tổ chức khác. Huấn quyền đương đại tiếp tục khẳng định rõ ràng cam kết này. Đức Thánh Cha Phanxicô nhắc rằng sứ mạng của Hội Thánh đối với người di dân và tị nạn có tầm nhìn bao quát hơn, và tóm tắt trong bốn động từ: “Đón tiếp, bảo vệ, thăng tiến và hội nhập.” Ngài nói thêm: “Những động từ ấy không chỉ áp dụng cho người di dân và tị nạn, mà còn diễn tả sứ mạng của Hội Thánh đối với mọi người đang sống ở các vùng ngoại vi hiện sinh — những người cần được đón nhận, bảo vệ, thăng tiến và hội nhập.”[xlvii] Đức Thánh Cha cũng nói: “Mỗi con người đều là con cái Thiên Chúa! Họ mang trong mình hình ảnh của Đức Kitô! Chính chúng ta cần phải thấy, và giúp người khác thấy rằng người di dân và tị nạn không chỉ là vấn đề cần giải quyết, mà là những anh chị em phải được đón nhận, tôn trọng và yêu thương. Họ là cơ hội mà Thiên Chúa Quan Phòng trao cho chúng ta để xây dựng một xã hội công bằng hơn, một nền dân chủ trưởng thành hơn, một đất nước hiệp nhất hơn, một thế giới huynh đệ hơn, và một cộng đoàn Kitô hữu cởi mở, sống động hơn theo tinh thần Tin Mừng.”[xlviii] Hội Thánh, như một người mẹ, luôn đồng hành với những ai đang trên đường lữ hành. Nơi thế giới thấy mối đe dọa, Hội Thánh thấy những người con; nơi người đời xây tường, Hội Thánh bắc cầu. Hội Thánh biết rằng việc loan báo Tin Mừng chỉ đáng tin khi được thể hiện bằng những cử chỉ gần gũi và đón tiếp. Và Hội Thánh cũng biết rằng, trong mỗi người di dân bị khước từ, chính Đức Kitô đang gõ cửa cộng đoàn của mình.

Bên cạnh những người bé mọn nhất trong chúng ta

76. Sự thánh thiện Kitô giáo thường nở hoa nơi những chốn bị lãng quên và thương tích nhất của nhân loại. Những người nghèo nhất trong số những người nghèo — những ai không chỉ thiếu thốn vật chất mà còn bị tước mất tiếng nói và sự công nhận phẩm giá — có một vị trí đặc biệt trong trái tim của Thiên Chúa. Họ chính là những người được Tin Mừng yêu thương, là những người thừa kế Nước Trời (x. Lc 6:20). Chính nơi họ, Đức Kitô tiếp tục chịu đau khổ và phục sinh. Và cũng nơi họ, Hội Thánh tìm lại được ơn gọi của mình — đó là phản chiếu khuôn mặt chân thật nhất của chính mình.

77. Thánh Têrêsa Calcutta, được phong hiển thánh năm 2016, đã trở thành biểu tượng toàn cầu của đức ái được sống đến tột cùng, dành cho những người cùng khổ nhất, những người bị xã hội loại trừ. Là Đấng sáng lập Dòng Thừa Sai Bác Ái, Mẹ đã hiến dâng trọn đời để chăm sóc những người hấp hối bị bỏ rơi trên đường phố Ấn Độ. Mẹ đón nhận những người bị gạt ra ngoài lề, rửa sạch vết thương của họ, và ở bên họ cho đến giây phút cuối cùng bằng sự dịu dàng của lời cầu nguyện. Tình yêu của Mẹ dành cho “những người nghèo nhất trong số người nghèo” không chỉ dừng ở việc chăm sóc thể xác, mà còn là loan báo Tin Mừng cho họ: “Chúng ta muốn loan báo tin vui cho người nghèo rằng Thiên Chúa yêu thương họ, rằng chúng ta yêu thương họ, rằng họ có giá trị đối với chúng ta; rằng họ cũng được tạo dựng bởi chính bàn tay yêu thương của Thiên Chúa, để yêu và được yêu. Người nghèo của chúng ta là những con người vĩ đại, rất đáng mến. Họ không cần sự thương hại của chúng ta, nhưng cần tình yêu thấu hiểu. Họ cần được tôn trọng, cần được đối xử với phẩm giá.”[xlix] Tất cả những điều ấy phát xuất từ một đời sống thiêng liêng sâu sắc, trong đó Mẹ xem việc phục vụ người nghèo như hoa trái của cầu nguyện và tình yêu, như nguồn mạch của bình an đích thực. Đức Gioan Phaolô II đã nói với các khách hành hương tại Rôma trong dịp phong Chân phước cho Mẹ: “Mẹ Têrêsa tìm đâu ra sức mạnh để hoàn toàn dấn thân phục vụ tha nhân? Mẹ tìm thấy nó trong cầu nguyện và chiêm niệm thinh lặng trước Đức Kitô, nơi dung nhan và Thánh Tâm Ngài. Chính Mẹ đã nói: ‘Hoa trái của thinh lặng là cầu nguyện; hoa trái của cầu nguyện là đức tin; hoa trái của đức tin là tình yêu; hoa trái của tình yêu là phục vụ.’ Chính lời cầu nguyện đã làm tràn đầy tâm hồn Mẹ bằng bình an của Đức Kitô và khiến Mẹ lan tỏa bình an ấy cho người khác.”[l] Têrêsa không xem mình là một nhà từ thiện hay nhà hoạt động, mà là hiền thê của Đức Kitô chịu đóng đinh, dấn thân phục vụ các anh chị em đau khổ bằng tình yêu trọn vẹn.

78. Tại Brazil, Thánh Dulce của người nghèo — được gọi là “Thiên thần hiền lành của Bahia” — đã thể hiện cùng một tinh thần Tin Mừng nhưng mang nét đặc trưng Brazil. Nói về ngài và hai nữ tu khác được phong thánh trong cùng buổi lễ, Đức Thánh Cha Phanxicô nhắc lại tình yêu của họ dành cho những người bị gạt ra ngoài lề xã hội, và nói rằng “các vị thánh mới cho chúng ta thấy đời sống thánh hiến là hành trình của tình yêu, đi đến những vùng ngoại vi hiện sinh của thế giới.”[li] Sơ Dulce đã đáp lại nghèo túng bằng sự sáng tạo, đối diện chướng ngại bằng dịu dàng, và đáp lại thiếu thốn bằng đức tin vững vàng. Sơ bắt đầu sứ vụ bằng việc đón những người bệnh trong một chuồng gà, và từ đó xây dựng nên một trong những hệ thống bác ái lớn nhất cả nước. Sơ phục vụ hàng ngàn người mỗi ngày, mà không bao giờ mất đi sự dịu hiền, làm mình trở nên nghèo để yêu Đức Kitô là Đấng nghèo nhất. Sơ sống đơn sơ, cầu nguyện sâu xa và phục vụ trong niềm vui. Đức tin của sơ không tách rời khỏi thế giới, nhưng khiến sơ càng gắn bó hơn với nỗi đau của những người bé mọn nhất.

79. Cũng cần nhắc đến Thánh Biển Đức Menni và các Nữ tu Bệnh viện Thánh Tâm Chúa Giêsu, những người phục vụ người khuyết tật; Thánh Charles de Foucauld, giữa các cộng đoàn ở sa mạc Sahara; Thánh Katharine Drexel, người dấn thân cho các nhóm bị thiệt thòi nhất ở Bắc Mỹ; Sơ Emmanuelle, cùng những người nhặt rác ở khu Ezbet El Nakhl tại Cairo; và nhiều người khác nữa. Mỗi người, theo cách riêng, khám phá ra rằng người nghèo không chỉ là đối tượng của lòng trắc ẩn, mà còn là thầy dạy Tin Mừng. Không phải là “mang” Thiên Chúa đến cho họ, mà là gặp gỡ chính Ngài giữa họ. Tất cả những tấm gương ấy dạy chúng ta rằng phục vụ người nghèo không phải là hành động ban phát “từ trên xuống”, mà là cuộc gặp gỡ giữa những người bình đẳng, nơi Đức Kitô được tỏ hiện và được tôn thờ. Thánh Gioan Phaolô II từng nhắc rằng: “Có một sự hiện diện đặc biệt của Đức Kitô nơi người nghèo, và điều đó đòi hỏi Hội Thánh phải có một chọn lựa ưu tiên dành cho họ.”[lii] Bởi vậy, khi Hội Thánh cúi xuống để chăm sóc người nghèo, chính khi ấy Hội Thánh đang ở trong tư thế cao đẹp nhất của mình.

Các phong trào quần chúng

80. Chúng ta cũng cần nhận ra rằng, trong suốt nhiều thế kỷ lịch sử Kitô giáo, việc trợ giúp người nghèo và bênh vực quyền lợi của họ không chỉ được thực hiện bởi các cá nhân, gia đình, tổ chức hay cộng đoàn tu trì. Đã có — và vẫn còn tồn tại — nhiều phong trào quần chúng được hình thành bởi giáo dân và do các lãnh đạo bình dân hướng dẫn, những người thường bị nghi ngờ, thậm chí bị bách hại. Tôi muốn nói đến “tất cả những ai bước đi không phải như những cá nhân riêng lẻ, mà như một cộng đoàn gắn bó mật thiết — của mọi người và vì mọi người — một cộng đoàn từ chối bỏ lại phía sau những người nghèo khổ và yếu thế… ‘Những người lãnh đạo bình dân’ là những người có khả năng quy tụ mọi người… Họ không xa lánh, cũng không sợ hãi những người trẻ đã từng chịu tổn thương hoặc mang trên vai thập giá.”[liii]

81. Những nhà lãnh đạo quần chúng ấy hiểu rằng tình liên đới “cũng có nghĩa là đấu tranh chống lại những nguyên nhân cơ cấu gây nên nghèo đói và bất bình đẳng; chống lại tình trạng thiếu việc làm, đất đai và nhà ở; và chống lại sự chối bỏ các quyền xã hội và lao động. Điều đó có nghĩa là đối đầu với những hệ quả tàn phá của ‘đế chế đồng tiền’… Tình liên đới, hiểu theo nghĩa sâu xa nhất, là một cách để viết nên lịch sử, và đó chính là điều mà các phong trào quần chúng đang thực hiện.”[liv] Vì thế, khi các tổ chức khác nhau bàn về nhu cầu của người nghèo, điều quan trọng là phải “mời gọi các phong trào quần chúng cùng tham gia, và truyền thêm sinh lực đạo đức cho các cơ cấu quản trị ở cấp địa phương, quốc gia và quốc tế — bằng dòng năng lượng luân lý dồi dào phát sinh khi những người bị gạt ra bên lề được mời vào việc kiến tạo một định mệnh chung.”[lv] Thật vậy, các phong trào quần chúng mời gọi chúng ta vượt qua não trạng cho rằng các chính sách xã hội chỉ là ‘chính sách dành cho người nghèo’, chứ không bao giờ là ‘chính sách với người nghèo’ hay ‘chính sách do người nghèo’, lại càng không phải là một dự án có thể gắn kết con người lại với nhau.[lvi] Nếu những người làm chính trị và chuyên môn không lắng nghe họ, thì “nền dân chủ sẽ bị teo lại, trở thành khẩu hiệu, thành hình thức trống rỗng; nó đánh mất bản chất đại diện, trở nên vô hồn, vì đã loại bỏ chính những con người đang ngày ngày đấu tranh cho phẩm giá của mình, đang kiến tạo tương lai của họ.” [lvii] Điều ấy cũng cần được nói về chính các cơ cấu của Hội Thánh.

* Bản dịch của Nhóm Tủ sách Công Giáo.

[i] Francis, Audience with Representatives of the Communications Media (16 March 2013): AAS 105 (2013), 381.

[ii] Second Vatican Ecumenical Council, Dogmatic Constitution Lumen Gentium, 8.

[iii] Francis, Apostolic Exhortation Evangelii Gaudium (24 November 2013), 48: AAS 105 (2013), 1040.

[iv]  In this chapter, some of these witnesses are being put forward. This is not being done in an exhaustive manner but rather to demonstrate that care for the poor has always characterized the presence of the Church in the world. A more in-depth reflection on the attention given to those most in need can be found in the following book: V. Paglia, Storia della povertà, Milan 2014.

[v] Cf. Ambrose, De officiis ministrorum I, cap. 41, 205-206: CCSL 15, Turnhout 2000, 76-77; II, cap. 28, 140-143: CCSL 15, 148-149.

[vi]Ibid., II, cap. 28, 140: CCSL 15, 148.

[vii]  Ibid.

[viii] Ibid., II, cap. 28, 142: CCSL 15, 148.

[ix] Ignatius of Antioch, Epistula ad Smyrnaeos, 6, 2: SC 10bis, Paris 2007, 136-138.

[x] Polycarp, Epistula ad Philippenses, 6, 1: SC 10bis, 186.

[xi] Justin, Apologia prima, 67, 6-7: SC 507, Paris 2006, 310.

[xii] John Chrysostom, Homiliae in Matthaeum, 50, 3: PG 58, Paris 1862, 508.

[xiii] Ibid. 50, 4: PG 58, 509.

[xiv] John Chrysostom, Homilia in Epistula ad Hebraeos, 11, 3 : PG 63, Paris 1862, 94.

[xv]  John Chrysostom, Homilia II De Lazaro, 6: PG 48, Paris 1862, 992.

[xvi] Ambrose, De Nabuthae, 12, 53: CSEL 32/2, Prague-Vienna-Leipzig 1897, 498.

[xvii] Augustine, Enarrationes in Psalmos, 125, 12: CSEL 95/3, Vienna 2001, 181.

[xviii] Augustine, Sermo LXXXVI, 5: CCSL 41Ab, Turnhout 2019, 411-412.

[xix]  Pseudo-Augustine, Sermo CCCLXXXVIII, 2: PL 39, Paris 1862, 1700.

[xx] Cyprian, De mortalitate, 16: CCSL 3A, Turnhout 1976, 25.

[xxi] Francis, Message for the 30th World Day of the Sick (10 December 2021), 3: AAS 114 (2022), 51.

[xxii] Camillus de Lellis, Rule of the Order of Ministers of the Sick, 27: M. Vanti (ed.), Scritti di San Camillo de Lellis, Milan 1965, 67.

[xxiii] Louise de Marillac, Letter to Sisters Claudia Carré and Maria Gaudoin (28 November 1657): E. Charpy (ed.), Sainte Louise de Marillac. Écrits, Paris 1983, 576.

[xxiv] Basil the Great, Regulae fusius tractatae, 37, 1: PG 31, Paris 1857, 1009 C-D.

[xxv] Regula Benedicti, 53, 15: SC 182, Paris 1972, 614.

[xxvi] John Cassian, Collationes, XIV, 10: CSEL 13, Vienna 2004, 410.

[xxvii]  Benedict XVI, Catechesis (21 October 2009): L’Osservatore Romano, 22 October 2009, 1.

[xxviii]  Cf. Innocent III, Bull Operante divinae dispositionis – Primitive Rule of the Trinitarians (17 December 1198), 2: J.L. Aurrecoechea – A. Moldón (eds.), Fuentes históricas de la Orden Trinitaria (s. XII-XV), Córdoba 2003, 6: “All things, from whatever lawful source they may come, the brothers are to divide them into three equal parts. Insofar as two parts will be sufficient, the works of mercy are to be performed from them, as well as providing for a moderate sustenance for themselves and their necessary household members. The third part is to be reserved for the ransom of captives who are incarcerated for the faith of Christ.”

[xxix] Cf. Constitutions of the Mercedarian Order, n. 14: Orden de la Bienaventurada Virgen María de la Merced, Regla y Constituciones, Rome 2014, 53: “To fulfill this mission, driven by charity, we consecrate ourselves to God with a special vow, called Redemption, by virtue of which we promise to give our lives, if necessary, as Christ gave his for us, to save Christians who are in extreme danger of losing their faith in new forms of slavery.”

[xxx] Cf. Saint John Baptist of the Conception, La regla de la Orden de la Santísima Trinidad, XX, 1: BAC Maior 60, Madrid, 1999, 90: “In this, the poor and prisoners are like Christ, on whom the sufferings of the world are laid… This holy Order of the Most Holy Trinity summons them and invites them to come and drink the water of the Savior, which means that, if Christ hanging on the cross was redemption and salvation for men, the Order has taken this redemption and wants to distribute it to the poor and save and free the prisoners.”

[xxxi] Cf. Saint John Baptist of the Conception, El recogimiento interior, XL, 4: BAC Maior 48, Madrid 1995, 689: “Free will makes man free and master among all creatures, but, God help me, how many are those who, by this way, become slaves and prisoners of the devil, imprisoned and chained by their passions and lusts.”

[xxxii] Francis, Message for the 48th World Day of Peace (8 December 2014), 3: AAS 107 (2015), 69.

[xxxiii] Francis, Meeting with Police Prison Officers, Detainees, and Volunteers (Verona, May 18 May 2024): AAS 116 (2024), 766.

[xxxiv] Honorius III, Bull Solet annuere – Regula bullata (29 November 1223), chap. VI: SC 285, Paris 1981, 192.

[xxxv] Cf. Gregory IX, Bull Sicut manifestum est (17 September 1228), 7: SC 325, Paris 1985, 200: “Sicut igitur supplicastis, altissimae paupertatis propositum vestrum favore apostolico roboramus, auctoritate vobis praesentium indulgentes, ut recipere possessiones a nullo compelli possitis.”

[xxxvi]  Cf. S.C. Tugwell, (ed.), Early Dominicans. Selected Writings, Mahwah 1982, 16-19.

[xxxvii] Thomas of Celano, Vita Secondapars prima, cap. IV, 8: AnalFranc, 10, Florence 1941, 135.

[xxxviii] Francis, Address following the visit to the tomb of Don Lorenzo Milani, (Barbiana, 20 June 2017), 2: AAS 109 (2017), 745.

[xxxix] John Paul II, Address to the Participants in the General Chapter of the Poor Clerics Regular of the Mother of God of the Pious Schools ( Piarists) (5 July 1997), 2: L’Osservatore Romano, 6 July 1997, 5.

[xl] Ibid.

[xli] John Paul II, Homily for the Mass of Canonization (18 April 1999): AAS 91 (1999), 930.

[xlii] Cf. John Paul II, Letter Iuvenum Patris (31 January 1988), 9: AAS 80 (1988), 976.

[xliii] Cf. Francis, Address to the Participants in the General Chapter of the Institute of Charity (Rosminians) (1 October 2018): L’Osservatore Romano, 1-2 October 2018, 7.

[xliv] Francis, Homily for the Mass of Canonization (9 October 2022): AAS 114 (2022), 1338.

[xlv] John Paul II, Message to the Congregation of the Missionary Sisters of the Sacred Heart (31 May 2000), 3: L’Osservatore Romano, 16 July 2000, 5.

[xlvi] Cf. Pius XII, Papal Brief Superior Iam Aetate (8 September 1950): AAS 43 (1951), 455-456.

[xlvii]  Francis, Message for the 105th World Day of Migrants and Refugees (27 May 2019): AAS 111 (2019), 911.

[xlviii]  Francis, Message for the 100th World Day of Migrants and Refugees (5 August 2013): AAS 105 (2013), 930.

[xlix] Teresa of Calcutta, Speech on the occasion of the awarding of the Nobel Peace Prize (Oslo, 10 December 1979): Aimer jusqu’à en avoir mal, Lyon 2017, 19-20.

[l] John Paul II, Address to the Pilgrims who had come to Rome for the Beatification of Mother Teresa (20 October 2003), 3: L’Osservatore Romano, 20-21 October 2003, 10.

[li] Francis, Homily for the Mass and Canonization (13 October 2019): AAS 111 (2019), 1712.

[lii] John Paul II, Apostolic Letter Novo Millennio Ineunte (6 January 2001), 49: AAS 93 (2001), 302.

[liii] Francis, Apostolic Exhortation Christus Vivit (25 March 2019), 231: AAS 111 (2019), 458.

[liv] Francis, Address to Participants in the World Meeting of Popular Movements (28 October 2014): AAS 106 (2014), 851-852.

[lv] Ibid .AAS 106 (2014), 859.

[lvi] Francis, Address to Participants in the World Meeting of Popular Movements (November 5, 2016): L’Osservatore Romano, 7-8 November, 2016, 5.

[lvii]  Ibid.

Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận

Bài viết liên quan

Xem nhiều

Fanpage Gió Nam

Thống kê truy cập

Lượt truy cập hiện tại : 0
Hôm nay : 266
Hôm qua : 515
Tổng số : 63308

0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x