close

BẢN DỊCH TÔNG HUẤN DILEXI TE CỦA ĐTC LÊÔ XIV – CHƯƠNG V – MỘT THÁCH ĐỐ KHÔNG NGỪNG

Ngày đăng: 23/10/2025 Lượt xem: 332 Chuyên mục: ĐTC LÊÔ XIV

CHƯƠNG V – MỘT THÁCH ĐỐ KHÔNG NGỪNG (HẾT)

103. Tôi chọn nhắc lại lịch sử lâu đời về việc Giáo hội chăm sóc người nghèo và sống cùng với người nghèo để làm rõ rằng đó luôn là phần cốt lõi trong đời sống của Giáo hội. Thật vậy, việc chăm lo cho người nghèo là một phần trong Truyền thống vĩ đại của Giáo hội — như một ngọn hải đăng Tin Mừng, soi sáng tâm hồn và hướng dẫn các quyết định của Kitô hữu qua mọi thời đại. Chính vì thế, chúng ta phải cảm thấy bị thôi thúc mời gọi mọi người cùng chia sẻ ánh sáng và sự sống được sinh ra từ việc nhận ra Đức Kitô nơi khuôn mặt của những người đau khổ và túng thiếu. Tình thương dành cho người nghèo là yếu tố thiết yếu trong lịch sử Thiên Chúa đối xử với chúng ta; nó tuôn chảy từ trái tim của Giáo hội như một lời kêu gọi không ngừng hướng đến tâm hồn các tín hữu, cả nơi từng cá nhân lẫn trong cộng đoàn. Là Thân Thể của Đức Kitô, Giáo hội cảm nghiệm đời sống của người nghèo như chính “thân thể” của mình, vì họ có một vị trí ưu tuyển trong Dân Thiên Chúa đang lữ hành. Do đó, tình yêu dành cho người nghèo — bất kể hình thức nghèo khó của họ là gì — chính là dấu ấn Tin Mừng của một Giáo hội trung tín với trái tim Thiên Chúa. Thật vậy, trong mọi phong trào canh tân của Giáo hội, một trong những ưu tiên hàng đầu luôn là mối quan tâm đặc biệt dành cho người nghèo. Theo nghĩa này, việc Giáo hội phục vụ người nghèo khác với bất kỳ tổ chức nhân đạo nào khác — khác cả trong nguồn cảm hứng lẫn phương pháp thực hành.

104. Không một Kitô hữu nào có thể xem người nghèo chỉ như một “vấn đề xã hội”; họ là thành phần của gia đình chúng ta, họ là “một phần của chúng ta.” Mối tương quan của ta với người nghèo không thể bị giản lược thành một hoạt động hay chức năng mục vụ khác. Như Tài liệu Aparecida nói: “Chúng ta được mời gọi dành thời gian cho người nghèo, quan tâm đến họ với tình yêu, lắng nghe họ cách chăm chú, đứng bên họ trong những lúc khó khăn — chọn sống những giờ, những tuần, thậm chí những năm của đời mình với họ, và nỗ lực biến đổi hoàn cảnh của họ, bắt đầu từ chính họ. Ta không thể quên rằng đó chính là điều Chúa Giêsu đã đề nghị bằng lời nói và hành động của Ngài.”[i]

Người Samari nhân hậu — một lần nữa

105. Nền văn hóa thống trị đầu thiên niên kỷ này dường như muốn chúng ta bỏ mặc người nghèo cho số phận của họ, và xem họ không đáng được quan tâm, huống chi là được tôn trọng. Đức Giáo hoàng Phanxicô, trong thông điệp Tất cả là anh em (Fratelli Tutti), đã mời gọi chúng ta suy niệm về dụ ngôn Người Samari nhân hậu (x. Lc 10,25-37), trong đó trình bày những phản ứng khác nhau của những người gặp thấy một người bị thương nằm bên vệ đường. Chỉ có người Samari là dừng lại và chăm sóc cho anh ta. Đức Thánh Cha Phanxicô đặt câu hỏi cho mỗi người chúng ta: “Anh chị em đồng hóa mình với ai trong những người ấy? Câu hỏi này, tuy thẳng thắn, nhưng rất trực tiếp và sâu sắc. Anh chị em giống nhân vật nào trong câu chuyện? Chúng ta cần nhìn nhận rằng mình luôn bị cám dỗ bỏ qua người khác, nhất là những người yếu đuối. Hãy thừa nhận rằng, dù đã có nhiều tiến bộ, nhưng chúng ta vẫn còn ‘mù chữ’ trong việc đồng hành, chăm sóc và nâng đỡ những người mong manh và dễ tổn thương nhất trong xã hội hiện đại. Chúng ta đã quen với việc ngoảnh mặt làm ngơ, bước qua, và chỉ chú ý khi vấn đề chạm đến chính mình.”[ii]

106. Chúng ta cần nhận ra rằng câu chuyện Người Samari nhân hậu vẫn luôn mang tính thời sự. “Nếu tôi gặp một người đang ngủ ngoài trời trong đêm lạnh, tôi có thể xem họ như một kẻ phiền toái, lười biếng, cản đường tôi, một cảnh tượng khó chịu, một vấn đề cho các chính trị gia giải quyết, hay thậm chí là một ‘rác thải’ làm bẩn không gian công cộng. Hoặc tôi có thể đáp lại với đức tin và đức ái, và nhìn nơi người ấy thấy một con người có phẩm giá như tôi, một thụ tạo được Chúa Cha yêu thương vô hạn, hình ảnh của Thiên Chúa, một người anh hay chị được Đức Kitô cứu chuộc. Đó chính là điều có nghĩa là làm Kitô hữu! Liệu sự thánh thiện có thể được hiểu cách tách biệt khỏi sự nhận ra sinh động này về phẩm giá của từng con người sao?” [iii] Người Samari nhân hậu đã làm gì?

107. Những câu hỏi ấy càng trở nên cấp bách hơn khi ta nhìn vào một căn bệnh nghiêm trọng trong đời sống của các xã hội hôm nay — và cả trong các cộng đoàn Kitô hữu. Nhiều hình thức dửng dưng mà ta thấy quanh mình thực ra là “dấu hiệu của một cách sống đang lan rộng dưới nhiều hình thức tinh vi. Hơn nữa, khi bị cuốn vào những nhu cầu của chính mình, việc nhìn thấy người khác đau khổ khiến ta bối rối. Ta cảm thấy khó chịu, vì ta không có thời gian cho vấn đề của người khác. Đó là những triệu chứng của một xã hội không lành mạnh: một xã hội tìm kiếm thịnh vượng nhưng quay lưng với đau khổ. Mong rằng chúng ta đừng rơi xuống vực sâu ấy! Hãy nhìn vào gương của Người Samari nhân hậu.”[iv] Những lời cuối cùng của dụ ngôn — “Hãy đi, và làm như vậy” (Lc 10,37) — chính là mệnh lệnh mà mỗi Kitô hữu phải mang trong tim mình mỗi ngày.

Một thách đố không thể né tránh đối với Giáo hội hôm nay

108. Vào một thời điểm đặc biệt nghiêm trọng trong lịch sử của Giáo hội tại Rôma, khi các cơ chế đế quốc đang sụp đổ dưới sức ép của những cuộc xâm lăng man rợ, Thánh Giáo hoàng Grêgôriô Cả đã cảm thấy cần phải nhắc nhở các tín hữu rằng: “Bất cứ lúc nào, nếu muốn, ta đều có thể tìm thấy một người Ladarô; và mỗi ngày, ngay cả khi không tìm kiếm, ta cũng gặp một người như thế nơi ngưỡng cửa nhà mình. Nay những người ăn xin vây quanh chúng ta, khẩn cầu bố thí; sau này, chính họ sẽ trở thành những người biện hộ cho chúng ta… Vậy đừng phung phí cơ hội làm việc bác ái, đừng để những điều tốt lành mà mình có bị bỏ quên.”[v] Thánh Grêgôriô đã can đảm lên án những hình thức định kiến đương thời chống lại người nghèo, kể cả quan điểm cho rằng họ đáng chịu cảnh khốn khổ của mình: “Mỗi khi thấy người nghèo làm điều gì đáng trách, đừng khinh bỉ hay phán xét họ, vì ngọn lửa nghèo khó có lẽ đang thanh luyện những lỗi lầm của họ, dù chỉ là nhỏ bé.”[vi] Không hiếm khi, sự sung túc của chúng ta lại khiến ta mù quáng trước nhu cầu của người khác, thậm chí khiến ta nghĩ rằng hạnh phúc và sự viên mãn của mình chỉ tùy thuộc vào chính mình, tách biệt khỏi người khác. Trong những trường hợp như thế, người nghèo trở thành những người thầy thầm lặng, giúp ta nhận ra sự tự mãn của bản thân và khơi dậy trong ta một tinh thần khiêm nhu chính đáng.

109. Dù đúng là người giàu chăm lo cho người nghèo, nhưng điều ngược lại cũng đúng không kém. Đây là một thực tế tuyệt vời đã được toàn bộ truyền thống Kitô giáo xác nhận: đời sống con người có thể được biến đổi khi họ nhận ra rằng người nghèo có nhiều điều để dạy chúng ta về Tin Mừng và những đòi hỏi của nó. Bằng chứng tá thầm lặng của họ, người nghèo giúp chúng ta đối diện với tính mong manh của chính sự hiện hữu của mình. Chẳng hạn, những người cao tuổi, qua sự yếu đuối thể lý, nhắc chúng ta nhớ đến sự mong manh của chính ta — điều mà ta thường cố giấu dưới vẻ ngoài sung túc và thành đạt. Người nghèo cũng nhắc ta rằng thái độ ngạo mạn, hung hăng mà ta thường mang theo khi đối diện với khó khăn là điều vô nghĩa; họ cho ta thấy rằng cuộc sống tưởng chừng an toàn và ổn định của ta thật ra rất mong manh và trống rỗng. Một lần nữa, Thánh Grêgôriô Cả có những lời thật sâu sắc: “Đừng ai cho mình là an toàn mà nói: ‘Tôi không cướp bóc của ai, tôi chỉ hưởng những gì thuộc về tôi.’ Người phú hộ không bị kết án vì đã lấy của người khác, mà vì khi sở hữu quá nhiều của cải, ông ta lại trở nên nghèo nàn bên trong. Chính điều ấy là lý do khiến ông bị kết án xuống hỏa ngục: giữa cảnh giàu sang, ông đã đánh mất cảm thức về công bằng; của cải ông có khiến ông kiêu ngạo và làm ông mất hết lòng trắc ẩn.”[vii]

110. Đối với người Kitô hữu, vấn đề của người nghèo chạm đến tận tâm điểm của đức tin. Thánh Gioan Phaolô II dạy rằng chọn lựa ưu tiên dành cho người nghèo — tức là tình yêu của Giáo hội dành cho họ — “là điều thiết yếu đối với Giáo hội, là một phần trong truyền thống bền vững của Giáo hội, và thúc đẩy Giáo hội phải chú tâm đến một thế giới nơi nghèo đói đang có nguy cơ đạt đến quy mô khổng lồ, bất chấp tiến bộ công nghệ và kinh tế.”[viii] Đối với Kitô hữu, người nghèo không phải là một phân loại xã hội học, nhưng chính là “xác thịt của Đức Kitô.” Không đủ nếu ta chỉ tuyên xưng mầu nhiệm Nhập Thể của Thiên Chúa một cách trừu tượng. Để thực sự đi vào mầu nhiệm vĩ đại này, ta cần hiểu rằng Thiên Chúa đã mang lấy một thân xác biết đói khát, biết bệnh tật, biết tù đày. “Một Giáo hội nghèo cho người nghèo khởi đầu bằng việc chạm đến xác thịt của Đức Kitô. Khi ta chạm đến xác thịt của Đức Kitô, ta bắt đầu hiểu được — dù chỉ một phần — ý nghĩa thực sự của sự nghèo khó này, sự nghèo khó của chính Thiên Chúa; và điều đó không hề dễ dàng.”[ix]

111. Bản chất của Giáo hội là liên đới với người nghèo, người bị loại trừ, người bị gạt ra bên lề và mọi người bị xem là ngoài lề xã hội. Người nghèo ở trung tâm của Giáo hội, bởi vì “đức tin của chúng ta vào Đức Kitô, Đấng đã trở nên nghèo khó và luôn gần gũi với người nghèo cùng những kẻ bị ruồng bỏ, chính là nền tảng cho mối quan tâm của chúng ta đối với sự phát triển toàn diện của những thành phần bị lãng quên nhất trong xã hội.”[x] Trong thâm tâm, mỗi người chúng ta cảm nhận được “lời kêu gọi phải lắng nghe tiếng van nài ấy, được sinh ra từ hành động giải phóng của ân sủng trong mỗi người chúng ta; vì thế, đây không phải là một sứ mạng dành riêng cho một số ít, mà là cho tất cả.”[xi]

112. Đôi khi, đã xuất hiện những phong trào hay nhóm Kitô hữu tỏ ra ít hoặc hoàn toàn không quan tâm đến công ích của xã hội, đặc biệt là việc bảo vệ và thăng tiến những thành phần dễ bị tổn thương và thiệt thòi nhất. Tuy nhiên, chúng ta không bao giờ được quên rằng tôn giáo — nhất là Kitô giáo — không thể bị giới hạn trong phạm vi riêng tư, như thể người tin không có trách nhiệm phải cất tiếng nói trước những vấn đề đang tác động đến đời sống xã hội dân sự và những mối quan tâm của con người.[xii]

113. Thật vậy, “bất kỳ cộng đoàn Giáo hội nào nếu nghĩ rằng mình có thể an toàn bước đi theo lối riêng, mà không có sự quan tâm sáng tạo và hợp tác hiệu quả trong việc giúp người nghèo sống có phẩm giá và vươn tới mọi người, thì cũng đang tự đẩy mình đến chỗ tan rã — cho dù họ có nói nhiều về các vấn đề xã hội hay chỉ trích chính quyền đến đâu. Họ sẽ dễ dàng trôi dạt vào một hình thức ‘thế tục thiêng liêng’, được ngụy trang bằng những thực hành tôn giáo, các buổi họp vô ích và những lời nói trống rỗng.”[xiii]

114. Tuy nhiên, vấn đề không chỉ là cung cấp trợ giúp xã hội hay thúc đẩy công bằng xã hội. Kitô hữu cũng cần lưu tâm đến một hình thức mâu thuẫn khác trong cách họ đối xử với người nghèo. Thực tế, “sự phân biệt đối xử tệ hại nhất mà người nghèo phải chịu là sự thiếu quan tâm về mặt thiêng liêng… Chọn lựa ưu tiên của chúng ta dành cho người nghèo phải chủ yếu được thể hiện qua một sự chăm sóc tôn giáo đặc biệt và ưu tiên.”[xiv] Tuy nhiên, chính sự chăm sóc thiêng liêng này lại bị thách thức — ngay cả giữa các Kitô hữu — bởi những định kiến phát sinh từ thói quen dễ dàng làm ngơ trước người nghèo. Có người nói: “Nhiệm vụ của chúng ta là cầu nguyện và dạy giáo lý đúng đắn.” Khi tách khía cạnh tôn giáo này ra khỏi sự phát triển toàn diện, họ còn nói rằng việc chăm lo cho người nghèo là trách nhiệm của chính phủ, hoặc cho rằng không nên giúp họ thoát khỏi nghèo đói, mà chỉ nên dạy họ làm việc. Đôi khi, người ta còn viện dẫn những số liệu giả khoa học để biện minh rằng nền kinh tế thị trường tự do sẽ tự động giải quyết được vấn đề nghèo đói. Hoặc có người chủ trương nên tập trung mục vụ cho cái gọi là “giới tinh hoa”, vì cho rằng thay vì “lãng phí thời gian” cho người nghèo, sẽ hiệu quả hơn nếu chăm sóc người giàu, người có ảnh hưởng và giới chuyên nghiệp, để nhờ họ tìm ra giải pháp thực tế và giúp Giáo hội được bảo vệ. Dễ dàng nhận ra rằng đằng sau những lập luận ấy là một lối sống mang tính thế tục, khiến ta nhìn thực tại qua lăng kính hời hợt, không có ánh sáng từ trên cao, và chỉ biết vun đắp những mối quan hệ đem lại sự an toàn và địa vị đặc quyền cho bản thân.

Bố thí trong thời nay

115. Tôi muốn kết thúc bằng vài suy nghĩ về việc bố thí, một thực hành mà ngày nay — ngay cả trong số các tín hữu — không còn được nhìn nhận tích cực. Không chỉ ít được thực hành, mà đôi khi còn bị xem thường. Tôi muốn nhấn mạnh lại rằng cách quan trọng nhất để giúp người nghèo là hỗ trợ họ tìm được một công việc tốt, để họ có thể sống xứng đáng hơn, phát huy khả năng của mình và đóng góp phần công bằng vào xã hội. Theo nghĩa này, “thiếu việc làm không chỉ đơn giản là không có nguồn thu nhập ổn định. Lao động đúng là như thế, nhưng còn nhiều hơn thế rất, rất nhiều. Nhờ lao động, con người trở nên trọn vẹn hơn, nhân tính được nảy nở, và người trẻ chỉ thật sự trưởng thành khi họ biết lao động. Học thuyết Xã hội của Giáo hội luôn xem lao động của con người như một sự tham dự vào công trình sáng tạo của Thiên Chúa — một công trình vẫn đang tiếp diễn mỗi ngày, nhờ vào đôi tay, khối óc và trái tim của những người lao động.”[xv] Tuy nhiên, khi điều ấy không thể thực hiện được, chúng ta không được phép bỏ mặc những người khác rơi vào cảnh thiếu thốn những điều cần thiết cho một đời sống có phẩm giá. Vì thế, bố thí vẫn còn — ít nhất trong hiện tại — là một phương thế cần thiết để gặp gỡ, tiếp xúc và cảm thông với những người kém may mắn hơn.

116. Những ai được thúc đẩy bởi tình bác ái chân thật đều hiểu rõ rằng việc bố thí không hề miễn trừ trách nhiệm của các cơ quan hữu trách, không thay thế nghĩa vụ của chính quyền trong việc chăm lo cho người nghèo, và cũng không làm giảm giá trị của những nỗ lực chính đáng nhằm bảo đảm công bằng xã hội. Tuy nhiên, bố thí cho ta cơ hội dừng lại trước người nghèo, nhìn vào mắt họ, chạm đến họ, và chia sẻ một phần của chính mình với họ. Dù nhỏ bé đến đâu, hành động bố thí cũng mang vào đời sống xã hội — vốn bị chi phối bởi nhịp sống cuồng nhiệt tìm kiếm lợi ích cá nhân — một nét của lòng nhân ái thánh thiện (pietas). Như sách Châm ngôn dạy: “Ai có lòng quảng đại thì được chúc phúc, vì họ chia cơm sẻ bánh với người nghèo.” (Cn 22,9)

117. Cả Cựu Ước lẫn Tân Ước đều chứa đựng những bài ca ngợi ca việc bố thí:
“Hãy kiên nhẫn với người nghèo hèn, đừng để họ phải chờ đợi của bố thí… Hãy tích trữ việc bố thí trong kho tàng của con, và nó sẽ cứu con khỏi mọi tai ương.” (Hc 29,8.12)
Chính Đức Giêsu cũng nói: “Hãy bán những gì anh em có mà bố thí. Hãy sắm lấy cho mình những túi tiền không hư nát, kho tàng không bao giờ hết ở trên trời, nơi trộm không bén mảng, mối mọt không phá hại.” (Lc 12,33)

118. Thánh Gioan Kim Khẩu từng nói: “Bố thí là đôi cánh của lời cầu nguyện. Nếu anh không gắn đôi cánh ấy cho lời cầu nguyện của mình, thì lời cầu nguyện ấy khó mà bay lên được.”[xvi] Cùng tinh thần đó, Thánh Grêgôriô Nazianzô kết thúc một bài giảng nổi tiếng bằng những lời đầy cảm hứng: “Nếu anh em cho rằng tôi có điều gì đáng nói, hỡi những người tôi tớ của Đức Kitô, anh em của Ngài và là những người đồng thừa kế, thì hãy đến thăm Đức Kitô bất cứ khi nào có thể; hãy chăm sóc Ngài, nuôi dưỡng Ngài, mặc áo cho Ngài, đón tiếp và tôn vinh Ngài — không chỉ như một bữa ăn, như vài người đã làm, hay bằng cách xức dầu cho Ngài như Maria, hoặc chỉ bằng việc cho Ngài mượn mộ như Giuse Arimathia, hay sắp xếp việc mai táng như Nicôđêmô, người đã yêu Chúa cách nửa vời, hay dâng cho Ngài vàng, nhũ hương và mộc dược như các nhà đạo sĩ đã làm trước tất cả những người ấy. Chúa của muôn loài không đòi hỏi hy lễ, mà là lòng thương xót. Vậy, hãy tỏ lòng thương xót với Ngài nơi những người nghèo, những người hôm nay đang nằm trên mặt đất, để khi ta rời khỏi thế gian này, chính họ sẽ đón ta vào nơi cư ngụ vĩnh cửu.”[xvii]

119. Tình yêu và những xác tín sâu thẳm của chúng ta cần được nuôi dưỡng liên tục, và điều đó được thực hiện qua hành động cụ thể. Nếu chỉ dừng lại ở phạm vi ý tưởng và lý thuyết, mà không thường xuyên thể hiện chúng bằng những việc bác ái thực tế, thì sớm muộn gì ngay cả những hy vọng và khát vọng tốt đẹp nhất của ta cũng sẽ phai nhạt. Chính vì thế, người Kitô hữu không bao giờ được bỏ quên việc bố thí. Cách thực hiện có thể khác nhau, và chắc chắn có thể hiệu quả hơn, nhưng nó phải tiếp tục được thực hành. Làm ít vẫn tốt hơn không làm gì cả. Dù dưới hình thức nào, việc bố thí cũng có sức chạm đến và làm mềm lại con tim khô cứng của chúng ta. Nó sẽ không xóa bỏ được vấn đề nghèo đói toàn cầu, nhưng ta vẫn phải thực hiện nó — một cách khôn ngoan, siêng năng và có trách nhiệm xã hội. Về phần mình, ta được mời gọi bố thí như một cách để vươn tay chạm đến thân xác đau khổ của người nghèo.

120. Tình yêu Kitô giáo phá bỏ mọi bức tường ngăn cách, kéo gần những người xa lạ, nối kết những người khác biệt và hòa giải kẻ thù. Nó bắc những nhịp cầu mà con người không thể tự sức mình dựng nên, và len lỏi vào cả những ngóc ngách sâu kín nhất của xã hội. Tự bản chất, tình yêu Kitô giáo mang tính ngôn sứ: nó làm nên những điều tưởng chừng không thể, vượt lên trên mọi giới hạn. Tình yêu trước hết là một cách nhìn cuộc sống và một cách sống cuộc đời. Một Giáo hội không đặt giới hạn cho tình yêu, không xem ai là kẻ thù để chống lại, mà chỉ thấy những con người để yêu thương — đó chính là Giáo hội mà thế giới hôm nay đang cần.

121. Qua công việc của anh chị em, qua nỗ lực thay đổi các cơ cấu xã hội bất công, hay chỉ bằng một cử chỉ gần gũi, đơn sơ mà chân thành, người nghèo sẽ nhận ra rằng chính lời của Chúa Giêsu đang được nói riêng với từng người họ: “Ta đã yêu thương con.” (Kh 3,9)

Ban tại Rôma, tại Đền Thánh Phêrô, ngày 4 tháng 10, lễ kính Thánh Phanxicô Assisi, năm 2025, năm thứ nhất trong triều đại giáo hoàng của tôi.

LÊÔ XIV, GIÁO HOÀNG.

[i]Fifth General Conference of the Bishops of Latin America and the Caribbean, Aparecida Document (29 June 2007), n. 397, p. 182.

[ii] Francis, Encyclical Letter Fratelli Tutti (3 October 2020), 64: AAS 112 (2020), 992.

[iii] Francis, Apostolic Exhortation Gaudete et Exsultate (19 March 2018), 98: AAS 110 (2018), 1137.

[iv] Francis, Encyclical Letter Fratelli Tutti (3 October 2020), 65-66: AAS 112 (2020), 992.

[v] Gregory the Great, Homilia 40, 10: SC 522, Paris 2008, 552-554.

[vi] Ibid ., 6: SC 522, 546.

[vii] Ibid ., 3: SC 522, 536.

[viii] John Paul II, Encyclical Letter Centesimus Annus (1 May 1991), 57: AAS 83 (1991), 862-863.

[ix]  Francis, Vigil of Pentecost with the Ecclesial Movements (18 May 2013): L’Osservatore Romano 20-21 May 2013, 5.

[x]  Francis, Apostolic Exhortation Evangelii Gaudium (24 November 2013), 186: AAS 105 (2013), 1098.

[xi] Ibid., 188: AAS 105 (2013), 1099.

[xii] Cf. ibid., 182-183: AAS 105 (2013), 1096-1097.

[xiii] Ibid., 207: AAS 105 (2013), 1107.

[xiv]  Ibid., 200: AAS 105 (2013), 1104.

[xv] Francis, Address at the Meeting with Representatives of the World of Labor at the Ilva Factory in Genoa (27 May 2017): AAS 109 (2017), 613.

[xvi] Pseudo-Chrysostom, Homilia de Jejunio et Eleemosyna: PG 48, 1060.

[xvii] Gregory Nazianzus, Oratio XIV, 40: PG 35, Paris 1886, 910.

Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận

Bài viết liên quan

Xem nhiều

Fanpage Gió Nam

Thống kê truy cập

Lượt truy cập hiện tại : 0
Hôm nay : 266
Hôm qua : 515
Tổng số : 63308

0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x