Thầy Hưng đọc danh sách từ trên xuống. Lần một. Lần hai. Rồi lần ba, chậm hơn, rà từng cái tên như thể mắt mình vừa nhìn sót một dòng.
Không có tên thầy!
Một cảm giác nghẹt thở , đắng nghẹn, và thời gian đặc quánh lại chung quanh thầy. Ngón tay vẫn để trên màn hình, ngay chỗ lẽ ra tên mình phải nằm, giữa một cái tên vần G và một cái tên vần K. Cái khoảng trống ấy nhức nhối như chỗ răng vừa nhổ, lưỡi cứ chực thò vào.
Ngoài hành lang có tiếng cười. Anh em đang gọi nhau ơi ới, chúc mừng, rủ nhau đi báo tin cho gia đình. Thầy nghe rõ từng tiếng, mà thấy xa lắc, như vọng qua một tấm kính. Sáng nay họ còn là anh em cùng một lớp, cùng một đích. Chỉ trong mấy dòng chữ, họ đã đứng sang bên kia một lằn ranh mà thầy chưa bước qua được.
Gần mười năm thanh xuân!
Mười năm kể từ ngày thầy khăn gói rời làng, mẹ đứng đầu ngõ nhìn theo, dúi vào tay thầy mấy đồng bạc lẻ gói trong khăn mùi soa. Triết rồi thần, thức khuya dậy sớm, những mùa hè đi giúp xứ, những đêm chầu dài đến rã gối. Năm mục vụ vừa rồi thầy làm ở một xứ vùng sâu, lội bùn đi thăm bệnh nhân, dạy giáo lý cho lũ trẻ, cha xứ khen thầy được việc. Thầy đã tưởng cái cây mình vun trồng ngần ấy năm nay đã tới mùa. Chỉ còn với tay là hái được quả.
Vậy mà!
Không một lời báo trước. Không ai gọi thầy lên nói lý do. Chỉ là một cái tên vắng mặt trên tờ giấy, lạnh lùng, dứt khoát, không giải thích.
Buổi trưa thầy vẫn phải xuống nhà cơm. Vắng mặt thì người ta lại càng để ý.
Vài người vỗ vai thầy. Cố lên. Năm sau thôi mà. Chúa có chương trình của Chúa. Những lời an ủi ấy, đáng lẽ là thuốc, rơi vào lòng thầy lúc này lại thành muối xát. Mỗi câu là một lời nhắc rằng thầy đã bị bỏ lại, rằng thầy khác họ rồi. Sáng nay còn ngồi chung một bàn, cùng một đích; trưa nay giữa họ và thầy đã có một lằn ranh vô hình.
Thầy gắng cười. Cảm ơn. Thầy nói thầy không sao. Miếng cơm nhạt thếch, nuốt xuống mà nghẹn ngang cổ. Nước mắt nóng hổi dâng lên sau hai hố mắt, nhưng thầy cắn răng. Không được. Một người đàn ông gần bốn mươi không thể ngồi khóc giữa nhà cơm cho người ta thương hại.
Thầy ăn hết bát cơm như cái máy, rồi xin phép lên trước.
Về phòng, thầy cài chốt cửa.
Và chỉ khi ấy, cái vỏ bọc thầy gồng suốt cả buổi mới vỡ. Thầy ngồi thụp xuống mép giường, hai vai rung lên. Nước mắt tràn ra, không ngăn được nữa, chảy dài trên gương mặt người đàn ông từng tưởng mình đủ mạnh để dâng hiến cả một đời.
Trên tường, cây thánh giá gỗ treo lặng lẽ.
Thầy ngước lên. Và trong nước mắt nhạt nhòa, lần đầu tiên sau bao năm, lòng thầy trào lên một thứ mà thầy chưa từng dám để thành lời.
Giận.
Thầy giận Chúa.
Tại sao, thầy thì thầm, giọng vỡ ra. Tại sao lại là con? Con đã làm gì sai? Con bỏ hết rồi. Con cho Chúa mười năm. Con cho Chúa tuổi trẻ của con, những gì đẹp nhất đời con. Vậy mà Chúa ơi, tại sao chuyện này lại xảy ra với con?
Cây thánh giá không trả lời. Đấng chịu đóng đinh vẫn cúi đầu, im lặng, như đã im lặng suốt hai nghìn năm. Và cái im lặng ấy, lúc này, sao mà tàn nhẫn.
Điện thoại rung liên hồi. Tin nhắn. Cuộc gọi. Người hỏi thăm, người an ủi, người vô tình hay hữu ý hỏi sao thế em, có chuyện gì à thầy, thầy biết lý do không. Mỗi lần màn hình sáng lên là một nhát dao mới cứa vào chỗ vốn đã toác miệng. Người ta quan tâm thật, thầy biết. Nhưng sự quan tâm lúc này chỉ phơi nỗi đau của thầy ra, nhân nó lên, nhắc đi nhắc lại đến không chịu nổi.
Thầy tắt máy. Rồi bật lên. Rồi lại tắt.
Cuối cùng, trong tất cả những cái tên đang chớp trên màn hình, thầy chỉ bấm gọi cho một người.
Mẹ.
Alô, con hả? Giọng bà cố vang lên, ấm áp, cái giọng đã ru thầy ngủ từ thuở nằm nôi. Con ăn cơm chưa con?
Nghe tiếng mẹ, thầy suýt bật khóc thành tiếng. Thầy cố giữ giọng bình thường. Nhưng mẹ là mẹ. Bà nghe ra ngay.
Con làm sao thế? Giọng con nghe lạ lắm.
Thầy im một lúc. Rồi nói, ngập ngừng, rằng năm nay danh sách truyền chức không có tên con mẹ ạ. Con phải chờ. Con không biết đến bao giờ. Con xin lỗi mẹ.
Đầu dây bên kia lặng đi một nhịp.
Rồi bà cố nói, giọng không một chút thất vọng, chỉ có sự dịu dàng mênh mông của người mẹ tảo tần cả đời vì con. Ôi trời, mẹ tưởng chuyện gì. Không sao con ạ. Năm nay không được thì năm sau. Cây trái còn có mùa của nó, con vội gì. Con đi được ngần ấy năm rồi, thêm một năm nữa có là bao. Mà bí quá thì con cứ về với mẹ. Về đây mẹ nuôi. Có gì đâu mà con phải lo.
Có gì đâu mà con phải lo.
Câu nói mộc mạc của người đàn bà quê mùa, không một chữ thần học, không một lời đạo lý cao siêu, vậy mà thấm vào lòng thầy hơn tất cả những lời an ủi thầy nghe suốt cả ngày hôm nay. Bởi trong câu nói ấy có một điều mà cả cái danh sách kia không lấy đi được. Dù thầy có làm được linh mục hay không, dù thầy thành hay bại, thì ở một nơi trên đời này vẫn luôn có một cánh cửa mở sẵn, một mái nhà, một người mẹ đợi thầy về.
Thầy dạ, tiếng dạ méo đi trong nước mắt. Rồi hai mẹ con nói thêm dăm ba câu nhạt, chuyện con gà con vịt, chuyện thời tiết, những chuyện chẳng đâu vào đâu mà bà cố cố tình kéo dài, để con trai bà còn được nghe tiếng mẹ thêm một chút.
Cúp máy, thầy vẫn ngồi đó.
Nỗi đau chưa tan. Sáng mai thầy vẫn phải bước xuống nhà cơm, vẫn phải đối diện với ngần ấy ánh mắt, vẫn chưa biết đường phía trước mình đi về đâu. Mọi sự vẫn bế tắc như một bức tường. Thầy nằm xuống, thở dài, rồi lại ngồi dậy, rồi lại đứng lên đi vài bước trong căn phòng chật, như con thú bị nhốt loay hoay tìm lối.
Nhưng có một điều đã khác.
Thầy ngước nhìn cây thánh giá lần nữa. Vẫn im lặng. Vẫn Đấng cúi đầu ấy. Nhưng lần này thầy chợt nghĩ, cái Đấng trên cây gỗ kia, Ngài cũng từng bị bỏ lại. Cũng từng kêu lên Lạy Cha, sao Cha bỏ con giữa lúc đau đớn nhất. Ngài không trả lời thầy, có lẽ, vì Ngài không đứng đối diện thầy để giảng giải. Ngài đang ở ngay bên cạnh, trong chính cái im lặng và cái bị bỏ rơi ấy.
Thầy không hết đau. Nhưng thầy thôi cô độc.
Ngoài cửa sổ, trời đã chạng vạng tối. Tiếng chuông nhà nguyện lại vang lên gọi mời giờ kinh chiều.
Thầy lau mặt, đứng dậy, sửa lại áo. Rồi mở chốt cửa, bước ra tiến về phía nhà nguyện…
* Tủ sách dịch Công Giáo – trích dẫn từ cuốn sách: “Đi qua giông tố để thấy trời xanh”.

