Tết năm ấy, nhà ông bà Thục đón khách sớm hơn thường lệ.
Cha xứ báo tin từ hôm hăm tám, rằng mồng bốn cha sẽ ghé thăm cùng mấy sơ, mấy thầy trong giáo xứ. Bà Thục nghe xong thì lật đật quét lại sân, lau lại bộ bàn ghế gỗ đã ngả màu, mua thêm ít mứt gừng, hộp trà sen loại ngon. Ông Thục ngồi ngoài hiên hút thuốc lào, chẳng nói gì, nhưng bà biết trong lòng ông cũng rối như tơ vò.
Con Hạnh nhà họ đi tu.
Nói cho đúng, nó chưa đi tu. Nó mới vào nhà dòng tìm hiểu ơn gọi được nửa năm, còn ở giai đoạn thỉnh sinh. Tết này nhà dòng không cho về, hay đúng hơn là nó xin ở lại. Cái ghế nó vẫn ngồi ăn cơm bỏ trống. Bà Thục dọn mâm cơm tất niên, theo thói quen vẫn lấy ra sáu cái bát, rồi khựng lại, lặng lẽ cất một cái vào.
Con Hạnh học giỏi. Suốt mười hai năm nó là niềm tự hào của cả dòng họ. Đậu đại học trên thành phố, ngành kế toán, ra trường loại khá. Ông bà Thục đã mường tượng ra hết rồi: con gái đi làm công ty, vài năm dành dụm, rồi lấy một tấm chồng tử tế, sinh cho ông bà đứa cháu bồng bế lúc về già. Cái tương lai ấy rõ ràng, chắc chắn, như con đường bê tông mới đổ trước ngõ.
Rồi một ngày nó về, ngồi xuống bên mâm cơm, nói con muốn đi tu.
Ông Thục buông đũa. Bà Thục tưởng mình nghe nhầm.
“Ăn học bao nhiêu năm giời rồi đi tu là đi tu thế nào.” Ông nói, giọng không lớn nhưng nặng. “Học kế toán để vào nhà dòng đọc kinh à con?”
Hạnh không cãi. Nó chỉ nói con suy nghĩ kỹ rồi, con thấy Chúa gọi con. Cái câu ấy, với người có đạo, đáng lẽ phải là câu đẹp nhất. Nhưng ngồi trong lòng người làm cha làm mẹ, nó lại thành một nhát dao êm.
Điều làm ông bà Thục mất ngủ không hẳn là chuyện đạo đức. Họ có đạo, đi lễ đều, quý các cha các sơ. Nếu là con nhà người ta đi tu, ông bà còn tấm tắc khen phúc đức.
Cái làm họ sợ, là chữ lỡ.
Lỡ nó đi được vài năm rồi ra thì sao. Bà Thục nghe người ta kể, có đứa vào dòng bảy tám năm, gần khấn trọn rồi mới ra. Ra thì đã ngoài ba mươi, bạn bè con cái đùm đề cả, mình thì tay trắng, dở dang. Nghề nghiệp bỏ bê lâu năm, tuổi xuân qua mất. Người đời không nhìn vào lòng thành, người đời nhìn vào cái kết quả. “Con bé nhà ông Thục tu không thành”, câu ấy bà đã nghe văng vẳng trong đầu dù chưa ai nói ra.
Ông Thục thì nghĩ khác, mà cũng là một nỗi sợ. Ông sợ con mình khổ. Nhà dòng kỷ luật, dậy sớm, làm lụng, vâng lời. Con gái ông từ bé ông nâng như nâng trứng, nó quen được chiều. Ông không hình dung nổi nó quỳ gối cọ sàn nhà nguyện lúc bốn giờ sáng mùa đông. Thương thì thương đứt ruột, mà nói ra thì sợ con bảo bố không hiểu.
Còn có một nỗi nữa, sâu hơn, mà cả hai ông bà đều không dám gọi tên: họ sợ mất con. Không phải mất theo nghĩa chết chóc. Mà là con bước vào một thế giới mà mình không với tới được. Con sẽ có một người Cha khác mà con gọi thiết tha hơn gọi mình. Con sẽ thuộc về một nơi không phải là nhà. Cái ghen tị thầm kín, rất người, mà đem đối chiếu với Chúa thì hóa ra tội lỗi, nên họ nuốt vào trong, càng nuốt càng đắng.
Rồi còn hàng xóm.
Bà Tư đầu ngõ, hôm rồi gặp bà Thục ngoài chợ, buông một câu tưởng vô tình: “Nghe nói cái Hạnh đi tu hả chị? Uổng thế, con bé xinh xắn học hành đến nơi đến chốn.” Cái chữ uổng ấy bà Thục nhai đi nhai lại cả buổi. Rồi ông Bảy bên cạnh, mỗi lần say lại nói vống: “Con gái nuôi lớn cho người ta, giờ nuôi lớn cho nhà thờ.” Người ta cười, ông bà Thục cũng phải cười theo, cái cười méo xệch.
Ở quê, chuyện nhà mình là chuyện cả làng. Ông bà Thục không sợ Chúa trách, họ sợ miệng đời. Mà cái sợ ấy chính họ cũng biết là hèn, nên lại càng khổ tâm hơn, vì vừa lo vừa xấu hổ với chính cái lo của mình.
Mồng bốn Tết, cha xứ đến thật.
Cha còn trẻ, đi cùng hai sơ và một thầy. Ông bà Thục pha trà, bày mứt, khách sáo mời ngồi. Cha hỏi thăm sức khỏe, chúc Tết, nói dăm ba câu về mùa màng. Không khí đầu còn gượng.
Rồi cha nhắc đến Hạnh.
“Con nghe Bề trên nhà dòng nói, em Hạnh ngoan lắm, chăm chỉ, được các sơ quý.” Cha nói, nhẹ nhàng. “Hai bác chắc nhớ em nhiều.”
Bà Thục nghe đến đó thì nước mắt tự dưng ứa ra, bà quay mặt đi lau vội. Cái vỏ khách sáo vỡ. Bà nói thật, giọng nghẹn:
“Thưa cha, con không dám trách Chúa, mà con lo lắm cha ạ. Con lo cho tương lai nó. Nhỡ đâu…” Bà bỏ lửng, không dám nói hết chữ nhỡ đâu.
Cha xứ không vội trấn an. Cha ngồi im một lúc, rồi nói, chậm rãi:
“Cái lo của hai bác là cái lo của tình thương, không có gì đáng xấu hổ cả. Ngay cả trong đạo, làm cha mẹ dâng con cho Chúa mà lòng không đau, thì cái dâng ấy mới lạ.” Cha ngừng. “Chúa không đòi hai bác phải vui ngay. Chúa chỉ xin hai bác đừng đóng cửa lòng em lại thôi.”
Một sơ lớn tuổi tiếp lời, giọng của người từng đi qua con đường ấy: “Bác ơi, ngày con vào dòng, mẹ con khóc ba đêm liền. Bà cũng sợ y như bác. Mà giờ bà là người tự hào nhất. Còn chuyện nhỡ đâu hả bác, nếu em Hạnh có tìm hiểu rồi thấy không hợp mà ra, thì cũng không phải là thất bại đâu bác. Mấy năm trong nhà dòng, học sống tử tế, học yêu thương, học chịu đựng, cái đó ra đời cũng chẳng phí. Con biết nhiều chị ra rồi, lập gia đình, làm mẹ hiền vợ đảm, ai cũng nói nhờ mấy năm nhà dòng mà nên người. Đi tu không thành cũng không phải là hỏng, bác ạ. Nó chỉ là một chặng đường Chúa dẫn.”
Ông Thục từ nãy im lặng, giờ mới lên tiếng, giọng khàn khàn:
“Tôi chỉ sợ nó khổ thôi cha ạ. Con gái tôi…”
“Thì hai bác cứ để em nếm cái khổ ấy.” Cha nói, mỉm cười. “Người ta chỉ lớn lên qua cái khổ mình tự chọn. Bác giữ em khỏi mọi cái khổ, thì bác giữ em mãi bé thơ. Thương con thật, là để con đi con đường của con, rồi mình đứng đằng sau đỡ khi con ngã.”
Khách về khi trời đã xế. Ông bà Thục tiễn ra tận ngõ.
Tối ấy, bà Thục lại dọn mâm cơm, tay theo thói quen với lấy sáu cái bát. Lần này bà không cất đi cái thứ sáu. Bà để nó đấy, úp xuống, như để dành.
Ông Thục nhìn, không nói gì. Nhưng đêm ấy, lần đầu tiên từ ngày con đi, ông ngủ được một giấc trọn.
Ngoài sân, hoa đào nở muộn, rụng lác đác xuống thềm.
* Tủ sách dịch Công Giáo – trích dẫn từ cuốn sách: “Đi qua giông tố để thấy trời xanh”.

