close

Anphongsô Liguori: Nhà giảng thuyết về Thiên Chúa đáng mến (1)

Ngày đăng: 17/07/2026 Lượt xem: 77 Chuyên mục: Gương các thánh
images

ANPHONGSÔ LIGUORI – Nhà giảng thuyết về Thiên Chúa đáng mến

TERRENCE J. MORAN – Bản dịch Việt ngữ

Một trong những phát triển đáng kể nhất trong việc nghiên cứu linh đạo kể từ Công đồng Vaticanô II là sự lưu tâm dành cho kinh nghiệm thiêng liêng của người Kitô hữu bình thường. Các thần học giải phóng Mỹ Latinh xem những suy tư về Kinh Thánh của các cộng đoàn giáo hội cơ bản (basic ecclesial communities) là một nguồn linh đạo chính đáng của truyền thống. Ngày càng có nhiều học giả linh đạo ý thức được nhu cầu phải điều chỉnh, hay ít ra là bổ sung, cho các “trường phái linh đạo” truyền thống bằng cách xem xét xem các trường phái ấy đã thực sự ảnh hưởng đến đời sống của người tín hữu bình thường như thế nào.[1] Không hiếm khi chính viễn tượng mà một trường phái linh đạo cho là đặc trưng nhất của mình lại có ảnh hưởng ít nhất trên đời sống người tín hữu bình thường; ngược lại, viễn tượng hay lối thực hành mà chính trường phái ấy coi là bên lề hơn lại có sức tác động trên đời sống và lòng đạo đức của các Kitô hữu. Tuy Linh Thao của Thánh I-nhã Loyola là bản văn định nghĩa linh đạo Dòng Tên, nhưng Dòng Tên lại tác động lên đời sống của người Công giáo bình thường nhiều hơn qua việc cổ vũ lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu. Dòng Anh Em Thuyết Giáo, tức Dòng Đa Minh, đã ảnh hưởng trực tiếp trên đời sống Công giáo mạnh mẽ nhất không phải qua nền thần học uy nghi của Thánh Tôma Aquinô, mà là qua việc rao giảng kinh Mân Côi. Số người Công giáo bình thường quen thuộc với nội dung linh đạo của Thánh Têrêxa Avila hay Thánh Gioan Thánh Giá là rất ít; song truyền thống Dòng Cát Minh đã chạm đến vô số người Công giáo cho đến rất gần đây qua Áo Đức Bà Camêlô nâu.

Khi lịch sử linh đạo được nghiên cứu không phải từ viễn tượng của các trường phái và các bản văn kinh điển mà là từ viễn tượng của kinh nghiệm tôn giáo nơi người Công giáo Rôma bình thường, thì trong Công giáo cận đại khó có một khuôn mặt nào có ảnh hưởng hơn Thánh Anphongsô Liguori. Người tín hữu bình thường có thể chưa từng nghe đến tên ngài, nhưng Anphongsô Liguori đã in dấu hình thành có tính quyết định lên cách người tín hữu bình thường sống kinh nghiệm đạo Công giáo Rôma trong hai trăm năm qua.[2]

Từ luật gia đến linh mục

Anphongsô Maria Liguori[3] chào đời ngày 27 tháng 9 năm 1696, là trưởng nam của ông Giuseppe de Liguori và bà Anna Cavalieri, tại Marianella, khi ấy là một vùng ngoại ô đồng quê của thành phố Napoli. Ông Giuseppe là một hạm trưởng hải quân, và cả hai vợ chồng đều thuộc giới quý tộc Napoli. Họ nuôi những kỳ vọng cao về đứa con trai. Anphongsô nhận được nền giáo dục tinh tế nhất mà giới quý tộc có thể có, cả về nghệ thuật, âm nhạc lẫn về khoa học nhân văn và tự nhiên. Chịu ảnh hưởng của cha, cậu học luật, và đã tốt nghiệp tiến sĩ luật dân sự và giáo luật khi mới mười sáu tuổi — một điều chưa từng có tiền lệ. Việc đào tạo tôn giáo cho cậu cũng rộng rãi không kém. Anphongsô là thành viên của “Nguyện đường dành cho các Thanh niên Quý tộc” (Oratory for Noble Youth) và như thế đã sớm chịu ảnh hưởng của linh đạo dịu dàng và đầy sức hút của Thánh Philipphê Nêri. Mỗi năm cậu cùng cha làm một tuần tĩnh tâm Mùa Chay, luân phiên giữa hai nhà tĩnh tâm Dòng Tên và Dòng Vinh Sơn.

Chàng thanh niên Anphongsô đứng giữa những dự tính nghề nghiệp của người cha khí phách và khát khao thầm kín của chính mình muốn tận hiến cho việc phục vụ Giáo hội. Mọi sự đi đến chỗ ngã ngũ vào năm 1723, khi sau nhiều năm thành công rực rỡ trong nghề luật sư, Anphongsô thua một vụ án quan trọng vì một vị thẩm phán đã bị mua chuộc. Anphongsô rời phòng xử án trong sự chán ghét, và không bao giờ trở lại, bất chấp áp lực của cha và bạn bè. Trong lúc chăm sóc bệnh nhân ở “Bệnh viện Bất Trị” (Hospital of the Incurables), nơi phần đông đang chịu đau đớn ở giai đoạn cuối của các bệnh hoa liễu, Anphongsô đã nghe tiếng Chúa gọi rời bỏ thế gian để hiến mình phụng sự Ngài.

Thật gợi hình cho linh đạo về sau của Anphongsô rằng khoảnh khắc trở lại của ngài có lẽ đã đến khi trong tay ngài cầm một cái bô hơn là một cỗ tràng hạt: linh đạo của ngài mãnh liệt tính tông đồ. Việc thay đổi “thế giới sống” mà Anphongsô sắp thực hiện là một cuộc chuyển dịch mang tính chính trị – xã hội hơn là địa lý: người ta đã mô tả đời ngài như một “cuộc xuất hành đến với người nghèo”. Từ giây phút trở lại ấy, ngài xa dần thế giới của uy tín và quyền lực mà ngài đã được sinh ra, để tiến về phía thế giới của những công dân bị đẩy ra bên lề nhất của thời đại mình. Chính trong cuộc chuyển dịch từ trung tâm quyền lực ra ngoại vi của xã hội mà Anphongsô đã tìm thấy sự giải phóng.

Ông Giuseppe nổi giận vì sự thay đổi trong đời con trai; và Anphongsô, tuy muốn gia nhập Dòng Nguyện Đường Thánh Philipphê Nêri, đã thoả hiệp với cha và được truyền chức linh mục triều năm 1726. Ngay từ những ngày đầu tiên của tác vụ linh mục, ngài đã nổi bật vì lòng nhiệt thành. Nhiều linh mục Napoli thế kỷ XVIII không bao giờ nhận được năng quyền giải tội, mà chỉ sống bằng tiền bổng lễ và bổng lộc, dành rất ít công sức cho việc chăm sóc mục vụ. Anphongsô thì hiến thân cho việc đào tạo thiêng liêng của giáo dân. Cùng với các linh mục bạn, ngài đã thiết lập các cappelle serotine hay “nguyện đường buổi tối”, nơi giáo dân sẽ đến gặp nhau vào buổi tối sau một ngày làm việc, để cầu nguyện, được huấn giáo về linh đạo, và nâng đỡ nhau trên đường nhân đức. Trong khi Anphongsô và các linh mục khác đóng vai trò cố vấn, các nguyện đường buổi tối được chính giáo dân — cả nam lẫn nữ — hướng dẫn. Số thành viên bao gồm cả Lazzaroni, đám đông dân đường phố Napoli, mà nhiều người đã đạt tới mức độ thánh thiện cao. Sau này, khi đã là một nhà thần học suy tư về ơn gọi phổ quát nên thánh, suy tư của Anphongsô không chỉ đến từ xác tín thần học mà còn từ chỗ ngài đã kinh nghiệm bằng chính mắt mình sự thánh thiện của những người như Agnello, người thợ làm pháo hoa, và Nardiello, người kiếm sống bằng nghề bán hạt dẻ nướng ngoài đường phố.

Cuộc gặp gỡ tại Scala và việc thành lập Dòng Chúa Cứu Thế

Năm 1730, Anphongsô có cuộc gặp gỡ quyết định thứ nhất trong hai cuộc gặp gỡ sẽ thay đổi đời ngài mãi mãi. Được bạn bè thuyết phục đi nghỉ tại làng Scala trên vùng đồi cao bên bờ biển Amalfi tuyệt đẹp, Anphongsô đã kinh hoàng trước sự dốt nát tôn giáo của những người nông dân địa phương. Các thành phố thì đông nghẹt các linh mục và tu sĩ nhàn rỗi và uể oải, còn cư dân nông thôn thì gần như không được tiếp cận với thừa tác vụ của Giáo hội. Tại Scala, Anphongsô cũng gặp gỡ Maria Celeste Crostarosa một cách quyết định. Là một tập sinh trong một tu viện nhỏ ở Scala, chị Celeste đã có một loạt kinh nghiệm thần bí thúc đẩy chị canh tân đan viện theo một Luật sống mới. Linh đạo của chị Celeste xoay quanh ý niệm viva memoria — rằng đời sống cộng đoàn phải là một “ký ức sống động” của con người và cuộc đời Đức Giêsu Kitô. Anphongsô được mời đến gặp Maria Celeste và thẩm định tính chân thực của các kinh nghiệm chị nhận được. Trước sự ngạc nhiên của nhiều người — vì ngài vốn không phải là người thân thiện với những ai tự nhận đã có các mặc khải phi thường — Anphongsô đã phán quyết rằng chị Maria Celeste là chân thực, và năm 1731, ngài giúp thành lập tại đan viện Scala “Dòng Đấng Cứu Độ Chí Thánh”. Sau này chị Celeste còn có một thị kiến khác rằng Thiên Chúa muốn thành lập một Hội Dòng nam song hành gồm các nhà thừa sai, do Anphongsô đứng đầu, sẽ theo cùng một Luật sống với các nữ tu và hiến mình cho việc rao giảng lưu động.

Anphongsô ban đầu tỏ ra hoài nghi. Tuy nhiên, ảnh hưởng phối hợp của kinh nghiệm ngài đã có với những người nghèo bị bỏ rơi ở Scala và các trực giác thiêng liêng của Maria Celeste đã đưa ngài đến chỗ nhận ra ý Chúa. Ngày 9 tháng 11 năm 1732, Anphongsô cùng với vài bạn đồng chí hướng đã tụ họp tại Scala để thành lập tu hội thừa sai mới, “Hội Dòng Đấng Cứu Độ Chí Thánh”, tận hiến cho việc rao giảng Lời Chúa cho những người bị bỏ rơi nhất, đặc biệt là những người nghèo ở nông thôn. Danh xưng của cả hai cộng đoàn sau này được đổi thành “Chí Thánh Đấng Cứu Chuộc”, và như thế Hội Dòng của Anphongsô đã nhận được tên gọi mà lịch sử vẫn dùng — Dòng Chúa Cứu Thế.

Thừa tác vụ đặc thù mà các tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế dấn thân là loan báo Tin Mừng cho những người ít có cơ hội tiếp cận thừa tác vụ của Giáo hội nhất. Phương thế các ngài dùng là tuần đại phúc (parish mission). Dĩ nhiên Anphongsô không phải là người sáng tạo ra tuần đại phúc, vốn khởi phát từ các phong trào canh tân sau Công đồng Trentô và đã được các Cha Dòng Tên, các Cha Vinh Sơn (mà tên gọi chính thức là “Hội Dòng Truyền Giáo”) và các Dòng khác vận dụng với thành công lớn lao. Tuần đại phúc gồm một chuỗi các buổi giảng thuyết và các cử hành cầu nguyện, hướng đến việc trở lại tận căn và huấn giáo cho một dân số phần lớn là những người đã chịu Phép Rửa nhưng không còn thực hành đức tin. Các đề tài của bài giảng đại phúc khá giống nhau giữa các Hội Dòng thừa sai hậu Trentô: bốn sự thật đời đời là chết, phán xét, thiên đàng và hỏa ngục; bản chất của tội và nhu cầu hoán cải; tình yêu và lòng thương xót Chúa; sự chuyển cầu của Đức Mẹ; huấn giáo về việc tham dự vào đời sống bí tích của Giáo hội. Anphongsô và các tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế thế hệ đầu tiên đã tinh chỉnh hệ thống tuần đại phúc và tích hợp nó vào một kế hoạch mục vụ rộng hơn. Nhiều khi các tuần đại phúc được tổ chức ở một nhà thờ trung tâm mà dân phải đến; trái lại, Anphongsô đòi các nhà thừa sai của ngài phải đi paese per paese, từ làng nhỏ này sang làng nhỏ khác, và ở lại cho đến khi mọi người đều được tiếp cận. Nghệ thuật giảng thuyết trên tòa giảng ở Napoli thế kỷ XVIII đầy những âm điệu ngân nga và ngập tràn những trưng dẫn văn học cổ điển; nhưng Anphongsô lại nói rằng một bài giảng tốt phải giống như một cuộc trò chuyện giữa bạn bè, và các trưng dẫn của ngài đều lấy từ kinh nghiệm hằng ngày của người nông dân.

Anphongsô đã có hai đóng góp đáng kể vào hệ thống tuần đại phúc. Thứ nhất, ngài đặt trọng tâm lớn vào việc kết thúc tuần đại phúc bằng việc thực hành vita devota — dạy dân sống một đời đạo đức sau khi tuần đại phúc đã qua; ngài rất nghi ngại những tuần đại phúc chỉ là “đống rơm bốc cháy”, sinh ra nhiều khói nhưng không có hơi ấm lâu dài. Ngài quy tụ dân làng thành các huynh đoàn (confraternities), tức các nhóm nhỏ họp nhau đều đặn, thường là không có linh mục hiện diện, để nguyện gẫm và nâng đỡ nhau trong đời sống Kitô hữu. Thứ hai, Anphongsô đòi các tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế phải trở lại làm một “tuần củng cố” (renewal) từ sáu tháng đến một năm sau khi tuần đại phúc kết thúc, để khơi lại nhiệt tình của dân và để bảo đảm rằng các huynh đoàn đang hoạt động tốt. Hơn nữa, các nhà Dòng Chúa Cứu Thế luôn phải được xây dựng ở một vị trí trung tâm trong vùng nông thôn, để dân có thể đến ngôi nhà thờ công cộng liền kề nhà dòng để nghe giảng và lãnh nhận huấn giáo lẫn linh hướng. Các cộng đoàn tự bản thân phải là những trung tâm cầu nguyện và loan báo Tin Mừng, nơi dân có thể đến tĩnh tâm. Một người đương thời quan sát các tuần đại phúc của các cha Dòng Chúa Cứu Thế thế hệ đầu tiên đã kinh ngạc rằng các linh mục còn bước cả vào những túp lều của nông dân. Đây chính là hình ảnh Giáo hội mà Anphongsô đã hiến đời mình cho: một Giáo hội rời bỏ nơi an toàn của tòa giảng để bước vào bụi bặm và rối rắm của kinh nghiệm nhân sinh, loan báo Tin Mừng mặt đối mặt.

Một trong những nghịch lý lớn của lịch sử linh đạo là chỗ Anphongsô đã hiến cả đời mình để rao giảng sự dư dật của lòng thương xót Chúa được ban trong Đức Giêsu Kitô, thế nhưng Dòng Chúa Cứu Thế về sau lại nổi tiếng là những nhà giảng thuyết dữ dội về hỏa ngục và án phạt. Dòng Chúa Cứu Thế đã có cuộc bành trướng lớn nhất trong thế kỷ XIX qua các cộng đoàn ở Bắc Âu — Pháp, Bỉ, Đức và Hà Lan. Các tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế Bắc Âu đã thấm nhiễm từ môi trường Giáo hội xung quanh một tinh thần khắt khe và một sự bận tâm về tội lỗi vốn hoàn toàn xa lạ với tinh thần của Đấng Sáng Lập. Hệ thống tuần đại phúc, vốn là một khí cụ mềm dẻo phục vụ việc loan báo Tin Mừng trong tay Anphongsô, thì đã trở nên hoá đá trong thế kỷ XIX. Trong các thế kỷ sau, cái vốn được dự tính là dụng cụ loan báo Tin Mừng đợt đầu cho người nghèo nông thôn lại trở thành công cụ khơi lên các mối bối rối lương tâm nơi những người Công giáo vốn đã đang giữ đạo. Nhưng ngay khi nhìn nhận các hạn chế của hệ thống tuần đại phúc Dòng Chúa Cứu Thế, chúng ta cũng không được đánh giá thấp ảnh hưởng của nó trên việc hình thành ý thức Công giáo thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX. Jay Dolan, sử gia của Công giáo di dân ở Hoa Kỳ, đã chỉ ra rằng các tuần đại phúc ở giáo xứ chỉ đứng sau trường học giáo xứ trong việc hun đúc một Giáo hội Hoa Kỳ đầy sức sống.[4]

* Bản dịch của Pt. Giuse Vũ Đức Trung, DCCT

[1]Về sự chênh lệch giữa linh đạo do các nguồn chính thức của Giáo hội truyền dạy và linh đạo do các tín hữu thực sự sống, xin xem Philip Sheldrake, Spirituality and history: questions of interpretation and method (New York: Crossroad, 1992).

[2]Về ảnh hưởng của linh đạo Anphongsô Liguori trong hai thế kỷ qua tại nước Anh và Ai-Len, xin xem John Sharp, Reapers of the harvest: the Redemptorists in Great Britain and Ireland, 1843–1898 (Dublin: Veritas Publications, 1989); riêng tại Ai-Len, xin xem “The mission” trong Lawrence J. Taylor, Occasions of faith: an anthropology of Irish Catholics (Philadelphia: University of Pennsylvania Press, 1995), tr. 167–189; tại Hoa Kỳ, xin xem Jay P. Dolan, Catholic revivalism: the American experience, 1830–1900 (Notre Dame, Indiana: University of Notre Dame Press, 1979).

[3]Trong mười năm qua, hai cuốn tiểu sử toàn diện về Anphongsô de Liguori đã được xuất bản bằng tiếng Anh: Théodule Rey-Mermet, St Alphonsus Liguori: tireless worker for the most abandoned, dịch từ ấn bản Pháp ngữ lần thứ hai bởi Jehanne-Marie Marchesi (New York: New City Press, 1989); Frederick M. Jones CSsR, Alphonsus de Liguori: the saint of Bourbon Naples (Dublin: Gill and Macmillan, 1992).

[4]Jay Dolan, The American Catholic experience (New York: Image Books, 1985), tr. 255.

Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận

Bài viết liên quan

0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x