close

MAGNIFICA HUMANITAS – PHẦN CUỐI – CHƯƠNG V & KẾT LUẬN

Ngày đăng: 04/06/2026 Lượt xem: 83 Chuyên mục: ĐTC LÊÔ XIV
collage

CHƯƠNG NĂM

VĂN HÓA QUYỀN LỰC VÀ NỀN VĂN MINH TÌNH THƯƠNG

  1. Sau khi đã suy xét cách trí tuệ nhân tạo đang biến đổi một số khía cạnh của đời sống và xã hội, đặc biệt những hệ lụy nghiêm trọng đối với phẩm giá con người, giờ đây chúng ta phải hướng sự chú ý đến một vấn đề còn bi thảm hơn nữa: chiến tranh. Ở đây, câu hỏi không chỉ là hiệu quả của những công cụ mới, nhưng còn là nguy cơ công nghệ, khi tách rời khỏi luân lý và trách nhiệm, sẽ làm cho các quyết định liên quan đến sự sống và cái chết trở nên nhanh chóng hơn, phi nhân hơn, và khiến việc sử dụng vũ lực được xem như một chọn lựa tức thời và khả thi. Trong một thế giới ngày càng lệ thuộc lẫn nhau, hòa bình không chỉ là một vấn đề giữa nhiều vấn đề khác, nhưng là điều kiện tiên quyết cho công ích phổ quát và là phép thử về sự trưởng thành luân lý của các dân tộc, đặc biệt của những người có trách nhiệm lãnh đạo.
  2. Cuộc cách mạng kỹ thuật số đang làm thay đổi bản chất của xung đột. Bên cạnh chiến tranh truyền thống, còn có những hình thức lai ghép như tấn công mạng, thao túng thông tin, các chiến dịch gây ảnh hưởng và tự động hóa các quyết định chiến lược. AI đóng vai trò như một yếu tố thúc đẩy và gia tốc trong các tiến trình ấy, nhất là trong bối cảnh nhiều công nghệ tự bản chất mang tính lưỡng diện. Do đó, điều được tạo ra để phòng vệ có thể nhanh chóng bị chuyển thành công cụ tấn công, và ranh giới mong manh giữa bảo vệ và gây hấn trở nên mờ nhạt. Dù AI có thể tăng cường khả năng phòng vệ và bảo vệ thường dân, nó cũng có thể hạ thấp ngưỡng sử dụng vũ lực, che chắn con người khỏi trách nhiệm và nuôi dưỡng một nền văn hóa trong đó kẻ thù bị giản lược thành con số thống kê, còn nạn nhân thành “thiệt hại phụ.” Trước những biến đổi ấy, chúng ta phải nhớ lại các nguyên tắc của Học thuyết Xã hội – phẩm giá con người, công ích, đích đến phổ quát của của cải, nguyên tắc bổ trợ, tình liên đới và công bằng – bởi đó là những tiêu chuẩn để phán đoán liệu công nghệ có thật sự phục vụ nhân loại hay đang khuất phục nhân loại. Vì thế, chúng ta phải xem các nguyên tắc ấy như những định hướng cho các quyết định của mình.
  3. Vì vậy, trong chương này, tôi sẽ đối chiếu hai lối tiếp cận đối nghịch mà tôi đã gợi lên bằng các hình ảnh Kinh Thánh trong phần Dẫn nhập. Một bên là cám dỗ xây dựng tháp Babel, dựa trên quyền lực và kiêu ngạo. Bên kia là sự kiên nhẫn cần thiết để tái thiết Giêrusalem “từng phần một,” như thời Nơkhêmia, bằng cách bảo vệ nhân tính và công ích.
  4. Nếu quan sát các động lực toàn cầu, chúng ta có thể nhận ra rõ hơn sự lan rộng của một nền văn hóa quyền lực, được đặc trưng bởi sự phân cực và bạo lực. Babel hiện đại không chỉ được thấy trong mô hình kỹ trị toàn cầu hóa, nhưng còn trong cuộc va chạm từ xa giữa các chủ nghĩa đế quốc đối nghịch, giữa những thế lực muốn duy trì ưu thế của mình và những thế lực muốn chiếm lấy ưu thế ấy, dẫn đến vô số xung đột địa phương. Hơn nữa, dường như không có giới hạn nào cho cuộc chạy đua – được thúc đẩy bởi một tham vọng phi nhân hóa – nhằm phát triển các công nghệ ngày càng mạnh hơn hoặc giành quyền kiểm soát chúng. Tuy nhiên, bất chấp vòng xoáy đi xuống ấy, chúng ta vẫn có thể thoáng thấy một phần lớn nhân loại đang cố gắng giữ lại nhân tính của mình và đang làm việc để xây dựng thành thánh của sự chung sống và hòa bình. Quá thường khi, chúng ta là những người xây dựng vô thức và những kiến trúc sư vụng về của thành ấy, có khả năng thực hiện những cử chỉ quảng đại nhưng lại thiếu một tầm nhìn tổng thể. Công trình xây dựng này chậm hơn, ít thấy hơn và kém ngoạn mục hơn, nhưng đang chờ đợi một sự hiểu biết sâu hơn và sự phối hợp lớn hơn, để có thể trở thành trách nhiệm có ý thức và rõ ràng của mọi cộng đồng, từ gia đình đến quốc gia, và trong các tương quan giữa các dân tộc. Chính viễn tượng dấn thân ấy, chính công trường của niềm hy vọng ấy, là điều chúng ta gọi là “nền văn minh tình thương.”

Nền văn minh tình thương trong thời đại kỹ thuật số

  1. Khi Thánh Phaolô VI khai sinh thuật ngữ “nền văn minh tình thương,”[1] thế giới đang ở giữa Chiến tranh Lạnh, cuộc chạy đua vũ trang và những bất ổn kinh tế nghiêm trọng. Trong bối cảnh ấy, Hội Thánh đề nghị một con đường khác với sự đối đầu ý thức hệ giữa các hệ thống, và hình dung một trật tự xã hội nơi công lý và bác ái đan kết với nhau, nơi tình yêu trở thành nguyên tắc hướng dẫn đời sống kinh tế, chính trị và văn hóa. Hôm nay, chúng ta phải mạnh mẽ khôi phục viễn tượng này, bởi nền văn minh tình thương không phải là một ảo tưởng ngây thơ, nhưng là một dự án đòi hỏi cao: chuyển dịch đức ái thành các cơ cấu công lý, trao cho tình huynh đệ một hình thức định chế, và nhìn người khác – dù là cá nhân hay dân tộc – như những đồng minh cần thiết để xây dựng công ích. Như Thông điệp Fratelli Tutti đã nhắc nhở, chỉ có tình yêu xã hội ấy mới có thể trở thành văn hóa và chuẩn mực, nhờ đó kiến tạo một trật tự quốc tế bền vững, biến sự chung sống có vũ trang đơn thuần thành một cộng đồng có chung tương lai.[2]
  2. Trực giác này càng trở nên nền tảng hơn trong bối cảnh chuyển đổi kỹ thuật số hiện nay. Các mạng lưới kỹ thuật số, nền kinh tế toàn cầu hóa và sự phát triển của AI tạo nên những mối dây ngày càng chặt chẽ hơn, nối kết – theo thời gian thực – những quyết định được đưa ra ở một nơi với những hệ quả chúng gây ra ở nơi khác. Theo nghĩa ấy, những lời của Công đồng Vaticanô II về sự lệ thuộc lẫn nhau ngày càng gia tăng giữa các dân tộc vẫn còn rất thời sự, bởi công ích đang mang chiều kích ngày càng phổ quát, với các quyền lợi và bổn phận liên quan đến toàn thể gia đình nhân loại.[3] Vì thế, dự án xây dựng nền văn minh tình thương phải đảm nhận nhiệm vụ biến sự lệ thuộc lẫn nhau bị áp đặt thành một tình liên đới được ước muốn và chọn lựa. Đây là nguyên tắc hướng dẫn các tiến trình công nghệ: không đủ để trí tuệ nhân tạo làm cho chúng ta hiệu quả hơn hoặc kết nối hơn; nó còn phải phục vụ việc xây dựng một gia đình nhân loại phổ quát, với các quyền và bổn phận chung, nơi sự gần gũi kỹ thuật số trở thành một cơ hội thực sự cho gặp gỡ và chăm sóc lẫn nhau.

Văn hóa quyền lực

  1. Trong thời đại chúng ta, một nền văn hóa quyền lực đang bám rễ, trong đó việc sở hữu các nguồn lực và khả năng thống trị có khuynh hướng quyết định nghị trình và tiêu chuẩn cho việc đưa ra quyết định. Theo cách ấy, công ích của nhân loại bị đẩy xuống hàng thứ yếu, còn bi kịch cụ thể của các dân tộc đang chịu chiến tranh bị xem là phụ thuộc trước các lợi ích chiến lược. Nền văn hóa quyền lực này thấm vào xã hội, làm biến đổi các tương quan và hành vi, lớn lên bằng cách bình thường hóa chiến tranh, theo đuổi sức mạnh quân sự ngày càng lớn hơn, lợi dụng khủng hoảng của chủ nghĩa đa phương và nuôi dưỡng một thứ chủ nghĩa hiện thực giả tạo khẳng định rằng không có con đường nào khác.

Sự bình thường hóa chiến tranh

  1. Năm 1965, những lời của Thánh Phaolô VI đã vang lên mạnh mẽ tại Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc: “Không bao giờ chiến tranh nữa, không bao giờ chiến tranh nữa!”[4] Chúng ta phải nhìn nhận rằng, bất chấp những khát vọng và tuyên bố hòa bình, sáu mươi năm qua đã bị đánh dấu bởi những cuộc xung đột tàn bạo kinh hoàng, thường tác động trên thường dân ở quy mô lớn, gây ra cái chết của các nạn nhân vô tội, di dời hàng loạt, bất ổn xã hội và những vết thương kéo dài. Tuy nhiên, trong diễn ngôn công cộng, từng có một xác tín rộng rãi rằng chiến tranh phải luôn là chọn lựa cuối cùng, phải chịu những giới hạn luân lý và pháp lý nghiêm ngặt, và luôn phải hướng tới một viễn tượng chính trị của hòa bình. Sau những biến chuyển ngay sau Thế chiến thứ nhất, một bước ngoặt đã xảy ra sau Thế chiến thứ hai: hòa bình được đặt làm trọng tâm của trật tự quốc tế, như được chứng thực đặc biệt trong Hiến chương Liên Hiệp Quốc, với mục tiêu “cứu các thế hệ mai sau khỏi tai họa chiến tranh.”[5] Tương tự, nhiều hiến pháp quốc gia đã giới hạn việc sử dụng vũ lực vào những hoàn cảnh cực đoan và được quy định rất nghiêm ngặt. Ngay cả trong thời Chiến tranh Lạnh, bất chấp sự tồn tại của nhiều xung đột nghiêm trọng, vẫn còn ý thức rằng bằng mọi giá phải tránh một cuộc chiến tranh thế giới mới.
  2. Nhưng hôm nay, chúng ta đang chứng kiến một sự thay đổi mô hình thực sự trong diễn ngôn công cộng và trong các quyết định tái vũ trang, với sự hồi sinh đáng lo ngại của chiến tranh như một công cụ của chính trị quốc tế, trong khi chính những nguyên tắc luân lý từng giới hạn việc sử dụng chiến tranh đang bị xói mòn. Các xung đột khu vực kéo dài, căng thẳng leo thang và những lời đe dọa qua lại đang dần trở nên gần như bình thường, và những hình thức xung đột do tham vọng mở rộng lãnh thổ – từng được cho là đã bị vượt qua – nay lại tái xuất hiện. Công luận dần dần bị định hình và điều kiện hóa bởi các diễn ngôn truyền thông gây phân cực, thường được các thuật toán ưu tiên xung đột và đối đầu khuếch đại.
  3. Chúng ta cũng đang chứng kiến một sự mất mát đáng lo ngại về ký ức lịch sử, khi những chứng từ trực tiếp về Trại tập trung và hai cuộc Thế chiến đang dần biến mất. Điều này dẫn đến việc viết lại quá khứ một cách chọn lọc hoặc méo mó, trong một bối cảnh nơi tin giả và sự thao túng các câu chuyện che khuất những bài học đã được rút ra. Nếu không có ký ức sống động về những kinh hoàng của chiến tranh, các quyết định chính trị có nguy cơ chỉ được đưa ra trên nền tảng quyền lực, mà không hề cân nhắc các hậu quả lâu dài.
  4. Thêm vào tất cả những điều ấy, chiều kích truyền thông và kỹ thuật số đang đem đến những yếu tố mới và quyết định. Các mạng lưới truyền thông, môi trường thông tin phân mảnh và các thuật toán tưởng thưởng cho xung đột có thể khuếch đại sự phân cực và oán giận, gia tăng tuyên truyền và khiến việc phân định chung trở nên khó khăn hơn. Như thế, chiến tranh không chỉ được tiến hành bằng vũ khí, nhưng còn được chuẩn bị về mặt văn hóa qua những câu chuyện giản lược, não trạng bạn-thù, thông tin sai lệch và sợ hãi. Khi ký ức lịch sử phai nhạt và các nguyên tắc luân lý bảo vệ thường dân cũng như những người dễ bị tổn thương nhất bị suy yếu, việc biện minh cho bạo lực như điều cần thiết, tất yếu hoặc thậm chí “sạch sẽ” trở nên dễ dàng hơn. Chính trong bối cảnh này, nhân loại đang trượt vào một nền văn hóa quyền lực bạo động, nơi hòa bình không còn xuất hiện như một trách nhiệm phải đảm nhận, nhưng như một khoảng nghỉ mong manh giữa các cuộc xung đột. Hôm nay, hơn bao giờ hết, không phủ nhận quyền tự vệ theo nghĩa nghiêm ngặt nhất, điều quan trọng là phải tái khẳng định rằng học thuyết “chiến tranh chính nghĩa,” vốn quá thường bị dùng để biện minh cho đủ loại chiến tranh, nay đã lỗi thời.[6] Nhân loại đang sở hữu những phương thế hữu hiệu và thích hợp hơn nhiều để cổ võ sự sống con người và giải quyết xung đột, như đối thoại, ngoại giao và tha thứ. Việc sử dụng vũ lực, bạo lực và vũ khí phản ánh một sự nghèo nàn trong tương quan, vốn luôn gây ra những hậu quả thảm khốc cho dân thường.

Sức mạnh không giới hạn

  1. Sự phát triển của phức hợp quân sự – công nghiệp đã trở thành một đặc điểm nổi bật của bối cảnh chính trị hiện nay và là một lĩnh vực then chốt trong nền kinh tế của nhiều quốc gia. Mối liên hệ chặt chẽ giữa lợi ích kinh tế, bộ máy quân sự và các quyết định chính trị tạo nên một “quốc gia vũ trang,” trong đó chiến tranh xuất hiện như sự nối dài tự nhiên của chính trị, còn thị trường vũ khí trở thành một động lực tự trị phía sau các quyết định quân sự. Chúng ta cũng không thể làm ngơ trước những lợi ích kinh tế khổng lồ đứng sau chiến tranh. Ngành công nghiệp vũ khí và các quốc gia cung cấp vũ khí thu lợi từ một thị trường phát triển chính nhờ các cuộc xung đột. Theo nghĩa đó, cũng có những lợi ích tài chính góp phần nuôi dưỡng căng thẳng tại nhiều vùng trên thế giới.
  2. Các kho vũ khí quân sự đang được chú ý trở lại. Trong quá khứ, việc nhận ra mối đe dọa do những vũ khí có khả năng hủy diệt toàn thể nhân loại gây ra đã thúc đẩy những con đường hòa hoãn và các cuộc đàm phán giải trừ quân bị. Đáng tiếc thay, cách tiếp cận này đã bị bỏ lại phía sau, và sự phát triển của các kho vũ khí hạt nhân – kể cả viễn cảnh sử dụng “chiến thuật” – khiến việc sử dụng những vũ khí ấy xem ra bớt bất khả thi hơn. Trong bối cảnh này, Hiệp ước Cấm Vũ khí Hạt nhân, có hiệu lực từ năm 2021 với sự ủng hộ của hơn bảy mươi quốc gia, là một bước tiến quan trọng. Tuy nhiên, hiệp ước ấy có nguy cơ phần lớn chỉ còn mang tính biểu tượng, vì các cường quốc hạt nhân chủ yếu chưa chấp thuận. Điều này đã dẫn đến một niềm tin phổ biến nhưng sai lầm rằng răn đe hạt nhân là điều kiện không thể thiếu cho an ninh. Điều đó cũng góp phần tạo nên một cuộc chạy đua vũ trang mới, khó kiểm soát, đi kèm với việc dần tháo dỡ các thỏa thuận cắt giảm vũ khí hạt nhân, cũng như việc phát triển các vũ khí “thu nhỏ,” khiến việc sử dụng chúng có vẻ khả thi hơn.
  3. Cùng một logic ấy cũng áp dụng cho chiến tranh quy ước. Sức mạnh quân sự, các sáng kiến ngoại giao yếu ớt và tính phức tạp của các lợi ích liên quan góp phần làm cho các xung đột có xu hướng kéo dài, với cái giá nhân mạng và môi trường cực kỳ cao. Khởi sự một cuộc chiến thì dễ hơn rất nhiều so với việc chấm dứt nó, thế nhưng thảo luận về việc ngăn ngừa xung đột lại vẫn bị đặt bên lề một cách bi thảm.
  4. Tình hình còn trở nên bất ổn hơn bởi sự xuất hiện của những tác nhân vũ trang mới, như các nhóm thánh chiến, dân quân tư nhân và mạng lưới tội phạm, đánh dấu sự chấm dứt độc quyền của Nhà nước trong việc sử dụng vũ lực. Thường khi, các nhóm này pha trộn những động cơ ý thức hệ mơ hồ với các lợi ích kinh tế cụ thể, biến chiến tranh thành một “lối sống” cho cả những thế hệ thanh thiếu niên và trẻ em. Ở đây, mục tiêu không còn là một chiến thắng chung cuộc, nhưng là kéo dài xung đột như một nguồn quyền lực và thu nhập.

Vũ khí và trí tuệ nhân tạo

  1. Bối cảnh nói trên gắn liền với sự phát triển không ngừng của các hệ thống vũ khí, đặc biệt những hệ thống liên quan đến AI. Gần đây, Tòa Thánh đã nhận định rằng việc các hệ thống vũ khí tự động ngày càng dễ được triển khai khiến chiến tranh trở nên “khả thi” hơn và ít lệ thuộc vào sự kiểm soát của con người hơn. Điều này vi phạm nguyên tắc rằng vũ lực chỉ được sử dụng như phương thế cuối cùng trong những trường hợp tự vệ chính đáng.[7] Vì thế, việc phát triển và sử dụng AI trong chiến tranh phải chịu những ràng buộc luân lý nghiêm ngặt nhất, để bảo đảm tôn trọng phẩm giá con người và sự thánh thiêng của sự sống, đồng thời tránh một cuộc chạy đua phát triển các loại vũ khí ấy.[8]
  2. Đôi khi người ta nói đến “các tác nhân luân lý nhân tạo,” như thể máy móc có thể phân biệt đúng sai cách nhất quán hơn con người. Nhưng phán đoán luân lý không thể bị giản lược thành tính toán, bởi nó bao hàm lương tâm, trách nhiệm cá nhân và việc nhìn nhận người khác như một nhân vị. Vì thế, không được phép trao phó các quyết định sát thương hoặc những quyết định không thể đảo ngược cho các hệ thống nhân tạo. Không một thuật toán nào có thể làm cho chiến tranh trở nên chấp nhận được về mặt luân lý. AI không loại bỏ tính phi nhân vốn có của xung đột; trái lại, nó có thể làm cho xung đột xảy ra nhanh hơn và trở nên phi nhân hơn, hạ thấp ngưỡng sử dụng bạo lực, biến phòng vệ thành dự báo mối đe dọa và vì thế giản lược nạn nhân thành dữ liệu. Theo cách ấy, nó sẽ khiến chúng ta quen dần với ý tưởng rằng bạo lực là điều không thể tránh và chỉ cần được tối ưu hóa. Điều này không làm giảm tầm quan trọng của việc, trong mức có thể, khắc ghi các giá trị và phán đoán đúng đắn vào những hệ thống nhân tạo mà chúng ta xây dựng, để chúng có thể góp phần vào một hệ sinh thái luân lý trong đó con người biết lắng nghe lương tâm mình hơn, đồng thời cho phép các mô hình AI thiết lập những ranh giới thích hợp.
  3. Không đủ để chỉ viện dẫn một loại đạo đức chung chung. Cần phải thiết lập những tiêu chuẩn cụ thể cho việc phân định. Tiêu chuẩn đầu tiên liên quan đến trách nhiệm cá nhân. Khi quyết định tấn công trở nên tự động hoặc thiếu minh bạch, nguy cơ thoái thác trách nhiệm gia tăng. Vì thế, chuỗi trách nhiệm phải có thể được xác định và kiểm chứng; những người thiết kế, huấn luyện, cho phép và sử dụng công nghệ phải chịu trách nhiệm về các quyết định của mình. Tiêu chuẩn thứ hai liên quan đến khung thời gian luân lý cho việc phán đoán. Trong khi AI có xu hướng đẩy nhanh các tiến trình quyết định, tốc độ và hiệu quả không bao giờ được trở thành động lực tối cao cho những quyết định không thể đảo ngược trong bối cảnh chiến tranh. Tiêu chuẩn thứ ba là nhận diện và bảo vệ thường dân. Bất cứ công nghệ nào tạo điều kiện cho các cuộc tấn công mà không nhìn thấy khuôn mặt con người đều hạ thấp ngưỡng luân lý của xung đột. Việc lựa chọn mục tiêu và sử dụng vũ lực không được lẫn lộn giữa chiến binh và thường dân, cũng không được bỏ qua tác động trên những dân cư không có khả năng tự vệ.
  4. Những tiêu chuẩn ấy làm phát sinh một số đòi hỏi không thể thương lượng. Trước hết, mọi hệ thống được sử dụng trong bối cảnh chiến tranh phải bảo đảm khả năng truy vết và tái dựng các tiến trình quyết định, để trách nhiệm và lỗi lầm không bị đổ dồn vào “máy móc.” Thứ đến, quyết định sử dụng vũ lực sát thương không thể được ủy thác cho các tiến trình mơ hồ hoặc tự động, nhưng phải luôn nằm dưới sự kiểm soát thực sự, tự ý thức và có trách nhiệm của con người. Sau cùng, cần khẩn thiết thiết lập một khuôn khổ chung – cả ở cấp độ quốc tế – nhằm kiềm chế cuộc chạy đua vũ trang công nghệ và bảo đảm sự bảo vệ vững chắc cho thường dân cũng như các hạ tầng cần thiết cho sự sống còn của họ.

Khủng hoảng của chủ nghĩa đa phương

  1. Văn hóa quyền lực cũng phát sinh từ cuộc khủng hoảng của hệ thống đa phương. Các định chế được thiết lập để bảo vệ ý niệm về một tương lai chung cho mọi dân tộc và một công ích toàn cầu dường như đã bị suy yếu. Điều này không chỉ do các giới hạn cơ cấu, nhưng còn do sự thiếu vắng thường xuyên một ý chí chung để nâng đỡ và cải tổ chúng, hoặc để nhìn nhận thẩm quyền luân lý của chúng. Thay vì tiến bộ, chúng ta đang thụt lùi khỏi bước ngoặt quan trọng của thế kỷ XX. Sau năm 1989, sự sụp đổ của các chế độ cộng sản tại châu Âu được tiếp nối bởi một tiến trình toàn cầu hóa chủ yếu mang tính kinh tế, nhưng lại thiếu một khuôn khổ chính trị thích hợp có khả năng nâng đỡ đối thoại và hòa bình. Người ta đã đặt một niềm tin gần như mù quáng vào khả năng của thị trường trong việc tạo ra thịnh vượng, dân chủ và ổn định. Trên thực tế, thay vì tự động tạo ra hiệp nhất và hòa bình, toàn cầu hóa đã kích thích những phản ứng cực đoan, căn tính và dân tộc chủ nghĩa. Kết quả rất xa với chủ nghĩa đa phương đích thực; điều xuất hiện lại là một thế đa cực hỗn loạn và đầy xung đột, với cảm thức nghi kỵ lan rộng.
  2. Cám dỗ xây dựng căn tính tập thể bằng cách đối lập với một kẻ thù cũng đã tái xuất hiện, được nuôi dưỡng bởi những câu chuyện trong đó mỗi bên tự trình bày mình như nạn nhân có quyền trả đũa. Việc giản lược các vấn đề phức tạp thành những phạm trù đơn giản – “tôi trước hết,” “bạn hay thù,” “chúng ta hay họ” – tạo điều kiện cho những quyết định thường thiếu trách nhiệm và phá hoại niềm tin lẫn nhau giữa các quốc gia. Sức mạnh của luật pháp quốc tế vì thế bị thay thế bởi khẳng định rằng “kẻ mạnh là kẻ có lý.” Do đó, các tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia hoặc xử lý tội ác chiến tranh thường bị làm suy yếu hoặc bị lách qua, gây ra những hệ lụy tàn phá đối với văn hóa chính trị và sự gắn kết xã hội.[9]
  3. Trong bối cảnh này, việc xây dựng hòa bình bị đẩy xuống vai trò thứ yếu. Hợp tác phát triển, giải trừ quân bị, ngăn ngừa xung đột và xây dựng niềm tin lẫn nhau bị bỏ quên nhân danh chính trị quyền lực. Những thành tựu của luật nhân đạo cũng đang bị tổn hại. Thật vậy, nguyên tắc tương xứng trong việc đáp trả hành vi xâm lược, việc bảo vệ quyền tiếp cận nước, lương thực và các nhu yếu phẩm, cũng như tôn trọng mạng sống thường dân, đặc biệt là trẻ em, đang bị xem như những di tích ngây thơ của quá khứ.

Một thứ chủ nghĩa hiện thực chính trị giả định

  1. Chúng ta đang sống trong một thời đại mù lòa thiêng liêng và văn hóa nghiêm trọng. Một thứ thực dụng giả tạo thúc giục chúng ta cắt đứt cội rễ lịch sử của mình, như thể có thể khai mở một “cuộc tạo dựng mới” tách rời khỏi quá khứ. Ngay cả những người trích dẫn các nguyên tắc luân lý quan trọng cũng có thể rơi vào chủ nghĩa hư vô lịch sử này, khi lầm tưởng rằng những tội ác của thế kỷ XX sẽ không bao giờ tái diễn. Nhưng trên thực tế, chính những động lực ấy đang tái xuất hiện dưới những dáng vẻ mới. Não trạng cân bằng vũ trang và răn đe dường như đang tự khẳng định trở lại. Tuy nhiên hôm nay, khác với mô hình hai cực của Chiến tranh Lạnh, sự gia tăng các tác nhân và chiến trường khiến não trạng này trở nên ngày càng mong manh. Các xung đột leo thang dẫn đến những cuộc chiến bất đối xứng và “lai ghép,” diễn ra không chỉ trên chiến trường mà còn trên các mặt trận kinh tế, tài chính và không gian mạng, nơi thông tin sai lệch và các chiến dịch nuôi dưỡng nỗi sợ của con người được dùng để thao túng công luận. Tại nhiều quốc gia, kể cả những nước thuộc Nam bán cầu, việc gia tăng chi tiêu quân sự được trình bày như câu trả lời duy nhất trước một tương lai bất định hoặc các mối đe dọa được cảm nhận. Trong khi đó, cái giá thực sự lại đổ trên người nghèo, khi các nguồn lực dành cho y tế, giáo dục và các dịch vụ xã hội bị cắt giảm.
  2. Cốt lõi của các vấn đề này là một thứ chủ nghĩa hiện thực giả tạo, không chỉ dựa trên não trạng quyền lực đang chiếm ưu thế, nhưng còn trên niềm tin văn hóa và nhân học rằng chiến tranh là một phần không thể tránh khỏi của bản tính con người. Người ta nói rằng mọi sự xưa nay vẫn như thế, ngoại trừ vài khoảng lặng, chứ mãi mãi vẫn như vậy! Hệ quả là mối bận tâm không còn là tìm kiếm hòa bình – vốn đã bị đánh mất như một điểm quy chiếu trên trường quốc tế – nhưng là làm thế nào và khi nào tiến hành hành động quân sự. Lập luận này cũng cho rằng nếu không chuẩn bị cho xung đột thì thật vô trách nhiệm. Tuy nhiên, tôi muốn nói rằng điều thật sự vô trách nhiệm chính là Realpolitik – thực dụng, thứ “chủ nghĩa hiện thực” chính trị gieo vào lương tâm và xã hội một thái độ cam chịu trước tính tất yếu của chiến tranh, và gạt bỏ hòa bình cũng như đối thoại như những lập trường không tưởng hoặc phi lý, không hiểu các nguy cơ đang đặt ra. Thật ra, hòa bình không phải là một niềm hy vọng ngây thơ, cũng không chỉ là sự vắng bóng chiến tranh; trái lại, hòa bình luôn có thể đạt được như hoa trái của công lý và bác ái.
  3. Trong bầu khí ấy, chủ nghĩa hư vô và chủ nghĩa thực dụng đan kết với nhau và cuối cùng bình thường hóa những sai lầm nghiêm trọng. Chủ nghĩa cực đoan tôn giáo và cuồng tín căn tính liên kết với các chính sách kinh tế phi lý, trong khi chính trị thường quay sang thông tin sai lệch, chế giễu đối thủ, và có hệ thống nuôi dưỡng nỗi sợ cũng như oán giận. Như thế, sự đa dạng ngày càng bị nhìn như một mối đe dọa, nuôi dưỡng khát vọng chiếm hữu, ý chí thống trị, tham vọng bá quyền, lạm dụng quyền lực và nỗi sợ người khác biệt, qua đó tạo nên một môi trường nơi các xung đột mới có thể phát triển gần như không ai hay biết.[10]
  4. Đây chính là mảnh đất màu mỡ cho những cuộc chiến mới, có lẽ còn nguy hiểm hơn những cuộc chiến trong quá khứ, bởi chúng có xu hướng bất chấp mọi giới hạn luân lý. Điều từng bị xem là không thể chấp nhận nay có thể được thực hiện gần như không chút do dự, trong khi phản ứng quốc tế ngày càng bị chi phối bởi lợi ích của từng chính phủ hơn là bởi mức độ nghiêm trọng khách quan của các tình huống. Các quyết định nay dường như gần như hoàn toàn bị thúc đẩy bởi những tính toán kinh tế, được biện minh qua các bóp méo truyền thông, sự phấn khích được tạo dựng và những “giấc mơ” chắc chắn sẽ tan vỡ, sinh ra thất vọng và thêm bạo lực. Khi con người tin rằng không có gì thật sự là chân thật và các nguyên tắc chỉ là những lời rỗng tuếch, thì ngòi nổ trong trái tim họ được châm cho những bùng phát mới của bất khoan dung và gây hấn.
  5. Trong những hoàn cảnh ấy, vấn đề về các cơ chế bảo vệ cụ thể để ngăn ngừa bạo lực trong tương lai vẫn là một câu hỏi bỏ ngỏ. Khi một nền văn hóa bình thường hóa và biện minh cho xung đột, một con đường nguy hiểm được mở ra: điều hôm nay xem ra không thể nghĩ tới, ngày mai có thể trở nên chấp nhận được nhân danh tiện ích hay an ninh. Ở các quốc gia bị đánh dấu bởi những căng thẳng xã hội nghiêm trọng, chúng ta không thể loại trừ khả năng một số nhà lãnh đạo xem xung đột vũ trang như một cách hữu hiệu để chuyển hướng sự chú ý khỏi các vấn đề nội bộ, và như một công cụ cay độc để quản lý khó khăn.
  6. Một trách nhiệm đặc biệt đặt trên vai những người làm việc trong lãnh vực nghiên cứu. Tất cả các tác nhân then chốt trong lãnh vực này – các nhà khoa học, chủ doanh nghiệp, nhà đầu tư, giới lãnh đạo học thuật, các chính trị gia và những người khác – phải làm việc với một não trạng minh bạch và có trách nhiệm, đồng thời giữ một ý thức sắc bén về bối cảnh rộng lớn hơn của các tiến bộ công nghệ mà họ góp phần vun trồng, kể cả những tiến bộ liên quan đến AI. Khi con người chỉ giới hạn mình trong lĩnh vực riêng, họ có thể tự lừa dối rằng mình đang thực hiện những hành vi trung lập về luân lý và tránh né các câu hỏi về những mục tiêu tối hậu đang hướng dẫn một số thí nghiệm. Theo cách ấy, họ có nguy cơ cộng tác – có lẽ không ý thức – với những dự án đáng chất vấn, vốn nuôi dưỡng những hình thức mới của bạo lực, thao túng và thống trị.

Xây dựng nền văn minh tình thương

  1. Việc xây dựng một thế giới trong tình trạng xung đột thường trực là một sự dữ và phải được gọi đúng tên của nó. Cách mô tả hoàn cảnh hiện nay như thế có thể xem ra u ám hoặc bi quan, nhưng tôi cho rằng điều đó là cần thiết. Tuy nhiên, viễn tượng Kitô giáo không chỉ dừng lại ở việc tố cáo sự dữ. Chúng ta nhìn lịch sử dưới ánh sáng của Chúa chịu đóng đinh và phục sinh, Đấng được Chúa Cha trao “mọi quyền năng trên trời dưới đất” (Mt 28,18). Chúng ta không xem hiện tại như một số phận đã được định trước, nhưng như một cơ hội cho sự hoán cải cá nhân và cộng đồng. Hơn nữa, chúng ta tin vào quyền năng của Nước Trời, vốn lớn lên từ hạt cải nhỏ bé, một khi được gieo xuống, sẽ nảy mầm và phát triển (x. Mc 4,26-32). Khi tiếng ồn hỗn loạn vây quanh chúng ta, điều thiện vẫn âm thầm lớn lên từ lòng đất. Như lời ngôn sứ Isaia: “Này Ta đang làm một điều mới; nó đang nảy mầm, các ngươi không nhận thấy sao?” (Is 43,19).
  2. Một phân tích kỹ hơn về lịch sử xác nhận điều này. Ngay cả trong những đêm tối tăm nhất, Chúa vẫn làm trỗi dậy những người nam và người nữ không chịu bỏ cuộc, kiên trì làm điều thiện, bảo vệ người dễ bị tổn thương và mở ra những con đường hòa giải. Ký ức về các thánh, những người công chính và những nhà kiến tạo hòa bình thường bị lãng quên cho chúng ta thấy rằng ân sủng không xóa bỏ xung đột một cách thần kỳ, nhưng khơi lên sự kháng cự tích cực trước sự dữ và một sự sáng tạo đáng kinh ngạc trong việc làm điều thiện. Người Kitô hữu nhìn thấy bóng tối và gọi đúng tên nó, nhưng họ không chỉ thụ động nhìn vào bóng tối, bởi họ biết ánh sáng và hiểu rằng bóng tối đã không thắng được ánh sáng và không thể đánh bại ánh sáng (x. Ga 1,5). Vì thế, ngay cả khi đau khổ dường như có tiếng nói cuối cùng, người Kitô hữu vẫn phục vụ điều thiện và được nâng đỡ bởi niềm hy vọng thần học, một niềm hy vọng trao cho thực tại ý nghĩa và định hướng.

Tất cả chúng ta đều có thể góp phần của mình

  1. Tuy nhiên, đến đây có thể xuất hiện một cám dỗ tinh vi: nghĩ rằng các vấn đề quá lớn còn chúng ta quá nhỏ bé, nên các chọn lựa của chúng ta không thể tạo nên khác biệt nào. Đây là một hình thức cam chịu lịch sự, thường được che đậy dưới danh nghĩa thực tế. Chắc chắn, không phải ai cũng có cùng một khả năng tạo nên thay đổi. Có những người điều hành quốc gia, đưa ra các quyết định đầu tư, lãnh đạo các định chế, nghiên cứu, giáo dục, sản xuất hoặc cung cấp thông tin; và cũng có những người dường như chỉ sống đời thường của mình. Tuy nhiên, không ai là không có trách nhiệm. Mỗi người chúng ta đều có những lãnh vực hành động riêng, và chính tại đó – chứ không phải nơi nào khác – chúng ta phải chọn lựa: hoặc nuôi dưỡng não trạng quyền lực, dù chỉ bằng sự dửng dưng, hoài nghi, dối trá hay hận thù; hoặc gìn giữ tinh thần hòa bình bằng sự thật, tiết độ, gần gũi và chăm sóc.
  2. Tác giả Công giáo thế kỷ XX J.R.R. Tolkien, qua lời của một nhân vật chính trong tiểu thuyết của mình, đã diễn tả trách nhiệm của chúng ta như sau: “Phần việc của chúng ta không phải là làm chủ mọi dòng thủy triều của thế giới, nhưng là làm điều nằm trong khả năng của mình để cứu giúp những năm tháng mà chúng ta đang sống, nhổ tận gốc sự dữ trong những cánh đồng mà chúng ta biết, để những người sống sau chúng ta có được mảnh đất sạch mà canh tác.”[11] Nền văn minh tình thương sẽ không phát sinh từ một cử chỉ đơn lẻ hay ngoạn mục, nhưng từ tổng hòa những hành vi trung tín nhỏ bé và bền bỉ, trở thành thành lũy chống lại sự phi nhân hóa. Vì thế, thật đáng để dừng lại suy tư về một vài khía cạnh cho thấy mỗi người, theo cách riêng của mình, có thể cộng tác vào việc xây dựng nền văn minh tình thương. Không có tham vọng nói hết về đề tài này, tôi muốn đề nghị năm con đường hướng tới trách nhiệm hằng ngày và trách nhiệm công cộng: cần giải giới ngôn từ, xây dựng hòa bình qua công lý, đón nhận quan điểm của các nạn nhân, vun trồng một chủ nghĩa hiện thực lành mạnh, và phục hồi đối thoại cùng chủ nghĩa đa phương.

Cần giải giới ngôn từ

  1. Đóng góp đầu tiên chúng ta có thể thực hiện cho một nền văn minh nhân bản hơn là biết tỉnh thức đối với lời nói của mình. “Hãy giải giới ngôn từ, và chúng ta sẽ góp phần giải giới thế giới.”[12] Lời nói có sức mạnh vô cùng lớn, điều chúng ta kinh nghiệm trong các tương quan hằng ngày; chẳng hạn, một lời được nói ra có thể làm tâm trạng chúng ta tốt hơn hoặc tệ hơn. “Hòa bình bắt đầu từ mỗi người chúng ta: trong cách chúng ta nhìn người khác, lắng nghe người khác và nói về người khác. Theo nghĩa ấy, cách chúng ta truyền thông mang tầm quan trọng nền tảng: chúng ta phải nói ‘không’ với cuộc chiến của lời nói và hình ảnh, phải khước từ mô hình chiến tranh.”[13] Vì thế, tất cả chúng ta phải xét mình về những lời mình sử dụng, những định kiến mình mang trong lòng và sự gây hấn rõ ràng hay ngấm ngầm ẩn chứa trong các lời ấy. Mỗi lần nói sự thật, đưa ra một lời khuyên khôn ngoan, nâng đỡ người đang cần được ủi an, tố cáo bất công và trao tiếng nói cho những người không có tiếng nói, chúng ta đều có một cơ hội thật sự để góp phần vào công ích.

Xây dựng hòa bình qua công lý

  1. Tất cả chúng ta, ở mọi cấp độ, đều có thể góp phần xây dựng nền tảng của hòa bình, đó là công lý. Chúng ta không tìm kiếm bất cứ thứ hòa bình nào – chẳng hạn như sự vắng bóng xung đột bằng mọi giá – nhưng là hòa bình đích thực phát sinh từ công lý. “Có một mối liên hệ rất mật thiết giữa công lý của từng cá nhân và hòa bình của mọi người.”[14] Khi chú giải câu Thánh Vịnh “công lý hòa bình đã giao duyên” (Tv 84,11), Thánh Augustinô viết: “Không ai tránh né khát vọng hòa bình, nhưng không phải ai cũng sẵn lòng thực thi công lý… Hãy thực hiện các việc của công lý, và hãy nhớ rằng công lý và hòa bình đã ôm lấy nhau; chúng không đối nghịch nhau. Tại sao bạn lại chống lại công lý? Chẳng hạn, công lý bảo bạn chớ trộm cắp, nhưng bạn không nghe; chớ ngoại tình, nhưng bạn bịt tai; đừng làm cho người khác điều bạn không muốn người khác làm cho mình; đừng nói về người thân cận những điều bạn không muốn người khác nói về mình… Vậy bạn có muốn đạt tới hòa bình không? Hãy thực thi công lý!”[15] Chúng ta đừng bao giờ mệt mỏi trong việc tìm kiếm công lý.

Đón nhận quan điểm của các nạn nhân

  1. Có những lúc, để còn là người, chúng ta phải đặt những dè dặt của mình sang một bên và đứng về một phía. Trong một số cuộc xung đột, giữ thái độ trung lập là bất công, và chỉ nói rằng mình không đồng lõa cũng chưa đủ.[16] Khi chứng kiến thường dân bị ném bom, bệnh viện, trường học hay các hạ tầng thiết yếu bị tấn công, và bạo lực đổ xuống trên trẻ em, chúng ta đối diện với những gương mù làm tổn thương chính nhân loại. Vì thế, chúng ta không thể chỉ dừng lại ở cấp độ phân tích trừu tượng. Đức Thánh Cha Phanxicô khuyến khích chúng ta “chạm vào thân xác bị thương tích”[17] của những người đau khổ, nhìn vào khuôn mặt họ, lắng nghe câu chuyện của họ và nhận ra các vết thương của họ. Những biến cố đau thương cần cả lịch sử lẫn ký ức: lịch sử để thuật lại các sự kiện, còn ký ức để làm chứng cho những kinh nghiệm đã sống.
  2. Dành chỗ cho quan điểm và tiếng nói của các nạn nhân qua truyền thông và giáo dục giúp chúng ta ý thức về vực thẳm của sự dữ vốn có trong chiến tranh, và nói chung trong mọi hình thức bạo lực. Điều đó giúp chúng ta khước từ việc bình thường hóa xung đột; không quay mặt đi khi phẩm giá con người bị xúc phạm; và trả lại cho các nạn nhân phẩm giá của việc được nhìn nhận và lắng nghe.[18] Việc chú ý đến những tiếng nói ấy củng cố xác tín rằng, ngoại trừ những thiểu số bạo lực, nhân loại không khao khát chiến tranh. Cách đặc biệt, Hội Thánh có thể trở thành nơi lưu giữ ký ức sống động của các nạn nhân. Như Thánh Phaolô VI đã nhắc lại, Hội Thánh cảm thấy mình phải làm cho tiếng nói của những người đã chết trong các cuộc chiến quá khứ và tiếng nói của những người đang sống nhưng vẫn mang thương tích hôm nay trở thành tiếng nói của chính mình, để tiếng kêu của họ trở thành lời mời gọi hòa bình và hòa hợp, chứ không phải khúc dạo đầu cho những xung đột mới.[19]

Vun trồng một chủ nghĩa hiện thực lành mạnh

  1. Chúng ta cần một chủ nghĩa hiện thực lành mạnh, biết tránh cả chủ nghĩa lý tưởng chính trị lẫn sự hoài nghi yếm thế. Có một loại lý tưởng chủ nghĩa, vì muốn bảo vệ thế giới quan riêng của mình, có khuynh hướng chọn lọc sự kiện, bóp méo và đặt lại tên cho chúng. Cuối cùng, những người theo nó sống trong một thực tại được dựng nên để phù hợp với các xác tín của chính họ. Ngược lại, cũng có một hình thức hiện thực suy đồi, nhầm lẫn giữa quan sát và cam chịu, cho rằng vì sức mạnh đang thắng thế nên nó sẽ luôn luôn thắng thế. Chủ nghĩa hiện thực đích thực không từ bỏ việc biến đổi thế giới; đúng hơn, nó bắt đầu bằng việc nhận diện rõ ràng các lợi ích, nỗi sợ, giới hạn và động lực quyền lực, chính để xác định điều gì có thể đạt được và những biện pháp cần thiết để đạt được điều đó. Nó không giản lược chính trị thành luân lý; nhưng cũng không đầu hàng bạo lực. Trái lại, nó tìm kiếm những con đường khả thi để làm cho hòa bình không chỉ là một lời nói, qua các định chế đáng tin cậy, những bảo đảm có thể kiểm chứng, các cuộc thương lượng kiên nhẫn, việc ngăn ngừa xung đột và bảo vệ thường dân.

Phục hồi đối thoại

  1. Để xây dựng nền văn minh tình thương, chúng ta phải dấn thân đối thoại, bởi đó là phương thế đầu tiên của đời sống chung giữa con người và giữa các dân tộc, và là chọn lựa thay thế cho xung đột công khai. Vào ngay trước cuộc Thế chiến thứ hai, Đức Piô XII khẳng định rằng với hòa bình, không có gì bị mất; còn với chiến tranh, mọi sự có thể bị mất. Ngài nhấn mạnh rằng con người phải trở lại nói chuyện với nhau, bởi một cuộc đối thoại chân thành và kiên trì luôn mở ra khả năng tìm được một giải pháp danh dự.[20]
  2. Thật vậy, đối thoại là một phần bình thường của đời sống con người và không chỉ liên quan đến các tương quan giữa các quốc gia. Đối thoại bao hàm việc đạt được một thái độ tìm cách xây dựng các mối dây huynh đệ dựa trên lắng nghe, sự cởi mở, biết dành thời gian cho nhau và thậm chí biết “phung phí” thời gian với nhau. Bởi nếu chúng ta có kinh nghiệm gặp gỡ đích thực với người khác, với những người khác biệt, xa lạ và di dân, thì việc tưởng tượng ra chiến tranh cũng trở nên khó khăn hơn nhiều.
  3. Ở cấp độ chính trị, cần khẩn thiết chuyển từ “văn hóa quyền lực” sang một “văn hóa thương lượng” đích thực, trong đó đối thoại và ngoại giao trở thành các phương thế thông thường để giải quyết xung đột. Giorgio La Pira đã bày tỏ niềm hy vọng rằng “phương pháp chiến tranh sẽ được thay thế bằng phương pháp hòa bình: phương pháp thương lượng, gặp gỡ, hội tụ, tức là phương pháp đích thực nhân bản!”[21] Ý thức rằng mọi dân tộc cùng chia sẻ một tương lai chung đòi hỏi “văn hóa thương lượng” trở thành một dấn thân chính trị và văn hóa ngày càng được chia sẻ rộng rãi, có khả năng từng bước đưa nhân loại ra khỏi vòng xoáy bạo lực.
  4. Với những ai có vinh dự và trách nhiệm lãnh đạo, tôi muốn lặp lại những lời tôi đã nói khi khởi đầu triều đại giáo hoàng của mình: “Các dân tộc trên thế giới khao khát hòa bình, và với các nhà lãnh đạo của họ, tôi tha thiết kêu gọi: Chúng ta hãy gặp nhau, hãy nói chuyện, hãy thương lượng! Chiến tranh không bao giờ là điều không thể tránh khỏi. Vũ khí có thể và phải im tiếng, vì chúng không giải quyết các vấn đề mà chỉ làm cho chúng gia tăng. Những người làm nên lịch sử là những người kiến tạo hòa bình, chứ không phải những người gieo rắc đau khổ. Trước hết, người thân cận của chúng ta không phải là kẻ thù, nhưng là những con người đồng loại; không phải là tội phạm để bị ghét bỏ, nhưng là những người nam nữ khác mà chúng ta có thể đối thoại. Chúng ta hãy khước từ những quan niệm nhị nguyên trắng-đen, rất đặc trưng cho não trạng bạo lực vốn chia thế giới thành những người tốt và những kẻ xấu.”[22]
  5. Trong việc khước từ não trạng bạo lực, đối thoại liên tôn đóng một vai trò quyết định, bởi ở trung tâm các con đường tâm linh lớn lao đều có một sứ điệp hòa bình.[23] Ngược lại, những ai dùng danh Thiên Chúa để hợp thức hóa khủng bố, bạo lực hay chiến tranh thì phản bội bản tính đích thực của Người, bởi chiến đấu nhân danh tôn giáo là tấn công chính tôn giáo.[24] “Tinh thần Assisi,” được Thánh Gioan Phaolô II gợi lên và được Đức Thánh Cha Phanxicô tiếp nối – chẳng hạn qua cuộc đối thoại của ngài với Đại Imam của Al-Azhar – cho thấy rằng các tín hữu có thể kín múc từ những nguồn mạch chân thực nhất của truyền thống thiêng liêng riêng mình, nơi không có chỗ cho một “lòng thù hận được thánh hóa.”

Sự cần thiết của ngoại giao và chủ nghĩa đa phương

  1. Trong các quan hệ quốc tế, đối thoại là một công cụ ngoại giao không thể thay thế để ngăn ngừa xung đột và tái xây dựng các mối dây tin tưởng. Trước những tuyên bố bộc phát, lối hùng biện gây hấn và chính trị quyền lực đặc trưng cho thời đại chúng ta, “ơn gọi của ngoại giao là cổ võ đối thoại với mọi phía, kể cả những đối tác bị xem là kém ‘thuận tiện’ hoặc không được nhìn nhận là hợp pháp để thương lượng.”[25] Vì thế, cần sử dụng mọi sự khiêm tốn và kiên nhẫn để nuôi dưỡng ngay cả những dấu chỉ thiện chí mong manh nhất giữa các bên xung đột, hầu tiến trình hòa bình có thể tiến triển.
  2. Không gian mạng cũng đã trở thành một chiến trường. Các cuộc tấn công mạng, thao túng dữ liệu và chiến dịch gây ảnh hưởng, được tổ chức với sự hỗ trợ của AI, có thể làm mất ổn định toàn bộ quốc gia ngay cả trước khi xung đột vũ trang công khai bùng nổ. Hơn nữa, trong lãnh vực này, việc quy trách nhiệm thường không chắc chắn. Khi không rõ ai đã thực hiện một cuộc tấn công, nguy cơ phản ứng không tương xứng, tính toán sai lầm và leo thang xung đột gia tăng. Vì thế, ngoại giao phải có khả năng hoạt động hữu hiệu trong môi trường mới này, thương lượng các quy định chung về việc sử dụng công nghệ kỹ thuật số, nhằm bảo vệ thường dân và những người dễ bị tổn thương nhất khỏi những hình thức bạo lực “vô hình” nhưng có thật.
  3. Các tổ chức quốc tế, đặc biệt là Liên Hiệp Quốc, là những công cụ thiết yếu để cổ võ nền văn minh tình thương, bởi chúng có thể thúc đẩy đối thoại giữa các quốc gia và cổ võ việc giải quyết xung đột bằng con đường hòa bình, sự phát triển toàn diện của các dân tộc, việc bảo vệ những người dễ bị tổn thương nhất, giải trừ quân bị và chăm sóc công trình tạo dựng. Qua những nỗ lực ấy, cộng đồng quốc tế có thể làm việc để giảm bất bình đẳng, bảo vệ quyền của người tị nạn và các nhóm thiểu số, chuyển các nguồn lực từ chi tiêu quân sự sang phát triển con người, và bảo vệ ngôi nhà chung của chúng ta. Tòa Thánh nâng đỡ và đồng hành với những nỗ lực này, đồng thời cũng nhìn nhận rằng những yếu kém hiện nay của Liên Hiệp Quốc và hệ thống chính trị quốc tế cho thấy nhu cầu phải có những cải tổ sâu xa. Đây không chỉ là vấn đề điều chỉnh kỹ thuật, bởi cuộc khủng hoảng về xác tín và giá trị, vốn cũng liên quan đến các nền tảng luân lý của các quốc gia, đang làm cho việc định hướng chủ nghĩa đa phương về công ích đích thực trở nên khó khăn hơn.[26]
  4. Trong bối cảnh quốc tế, nền ngoại giao của Tòa Thánh tiếp nhận nguyên tắc Tin Mừng về lòng thương xót như một tiêu chuẩn cụ thể cho hành động chính trị. Đây là một trong những cách Tòa Thánh đặt mình phục vụ nhân loại, bằng cách kêu gọi lương tâm nhân danh đức ái và chân lý, bảo vệ phẩm giá của mỗi con người và lên tiếng thay cho người nghèo, người di dân và các nạn nhân chiến tranh. Theo cách ấy, nền ngoại giao Toà Thánh diễn tả tính công giáo của Hội Thánh và góp phần xây dựng nền văn minh tình thương, nơi ngay cả các công nghệ mới cũng có thể được định hướng về công ích.

Cầu nguyện và hy vọng

  1. Những con đường thực thi trách nhiệm ấy được nâng đỡ bởi cầu nguyện, và ngược lại, chúng cũng nuôi dưỡng lời cầu nguyện. Thật vậy, đối với mỗi người chúng ta, hòa bình trước hết đến “từ Thiên Chúa, Đấng yêu thương tất cả chúng ta cách vô điều kiện.”[27] Đó là hồng ân Đức Giêsu ban cho các môn đệ trong ngày Phục Sinh: “Bình an cho anh em! Đó là bình an của Đức Kitô phục sinh. Một bình an không vũ trang và có sức giải giới, khiêm nhường và bền bỉ.”[28] Bằng những lời ấy, tôi đã chào Hội Thánh và thế giới trong ngày tôi được tuyển chọn để kế vị thánh Phêrô. Giờ đây, tôi muốn lặp lại những lời ấy và mời gọi mọi người cầu xin ân sủng này. Chúng ta đừng bao giờ mệt mỏi cầu nguyện cho hòa bình và dấn thân kiến tạo hòa bình trong các tương quan của mình cũng như trong xã hội.

KẾT LUẬN

  1. “Mỗi người hãy cẩn thận xem mình xây dựng thế nào” (1 Cr 3,10). Với những lời ấy, Thánh Phaolô khích lệ các Kitô hữu Côrintô gìn giữ sự hiệp nhất. Anh chị em thân mến, chúng ta đã suy tư về thế giới mà mình đang xây dựng, và đã tự hỏi việc bảo vệ con người trong thời đại trí tuệ nhân tạo có nghĩa là gì. Kết thúc suy tư này, tôi muốn đề nghị một chương trình sống Kitô hữu vừa tỉnh thức vừa đòi hỏi, nhờ đó chúng ta có thể bước qua cuộc thay đổi mang tính thời đại này dưới ánh sáng Tin Mừng. Con đường ấy mở ra qua việc chiêm ngắm kế hoạch của Thiên Chúa, sống sự hiệp nhất Giáo Hội nhờ tham dự Bí tích Thánh Thể, xây dựng một thế giới đặt nền trên công ích, và cầu nguyện trong sự hiệp thông với Đức Trinh Nữ Maria.

Ngôi Lời đã trở nên xác phàm

  1. Thế giới chúng ta đầy dẫy những nỗ lực nhằm chiếm lấy quyền kiểm soát thị trường và các vùng ảnh hưởng, thường được che phủ bằng những lời lẽ trấn an và những ý thức hệ quyến rũ. Tuy nhiên, tâm hồn chúng ta vẫn khát mong một con đường khôn ngoan và nhân hậu, giống như điều Đức Maria ca tụng trong kinh Magnificat, khi Mẹ tuyên xưng rằng lòng thương xót của Thiên Chúa trải dài từ đời nọ đến đời kia cho những ai kính sợ Người.[29] Kế hoạch thương xót ấy vẫn tiếp tục được thực hiện trong lịch sử hôm nay, ngay giữa những biến đổi nhanh chóng và gây xáo trộn do các thuật toán và mạng lưới toàn cầu mang lại; và kế hoạch ấy trở thành chiếc la bàn trong thời đại kỹ thuật số, giúp chúng ta sống theo Tin Mừng.
  2. Ở trung tâm của mọi sự là mầu nhiệm Nhập Thể: Ngôi Lời đã trở nên xác phàm và cư ngụ giữa chúng ta. Thân mình của Chúa Con, nghèo khó và dễ bị tổn thương, gợi lên thân mình của biết bao anh chị em bị tước đoạt phẩm giá và bị buộc phải im lặng.[30] Nhờ sự gần gũi của Chúa, ơn bình an đi vào thế giới cách nghịch lý. Bình an ấy đến qua quyền được trở nên con cái Thiên Chúa, và được đánh thức khi chúng ta để mình xúc động trước nước mắt của những người bé nhỏ, sự mong manh của người cao tuổi, sự im lặng của các nạn nhân và cuộc chiến đấu của những ai chống lại sự dữ mà họ không muốn phạm.[31] Nơi thân xác bị thương tích nhưng được yêu thương ấy, Chúa Cha tỏ cho chúng ta thấy nhân tính đích thực của một đời sống được hoàn thành nhờ mở ra và hiệp thông, dẫn chúng ta đến ước muốn cho thánh ý Người được thể hiện dưới đất cũng như trên trời.[32]
  3. Trong những hứa hẹn của chủ nghĩa xuyên nhân loại và một số trào lưu hậu nhân loại, vốn tìm kiếm một nhân loại được nâng cấp và gần như không còn thân xác, chúng ta nhận ra một khát vọng đáng quan tâm: nhu cầu về một đời sống viên mãn hơn, ít bị giới hạn và đau khổ hơn. Tuy nhiên, mầu nhiệm Nhập Thể mở ra một con đường khác. Một đàng, các ý thức hệ cũ và mới thúc giục nhân loại vượt qua giới hạn nhờ công nghệ, và vươn lên trên người khác bằng cách khẳng định quyền thống trị. Ngược lại, mầu nhiệm Con Thiên Chúa đi vào thân phận con người hứa ban một điều hoàn toàn khác. Thiên Chúa hằng sống đi vào trong lịch sử chúng ta để giải thoát chúng ta khỏi mọi hình thức nô lệ.[33] Người mang lấy sự yếu đuối của chúng ta và biến nó thành nơi chốn của ơn cứu độ. Không có khoảnh khắc hay hoàn cảnh nhân sinh nào lại không xứng đáng với Thiên Chúa. “Theo giáo huấn đức tin của chúng ta, trong các mầu nhiệm của mình, chúng ta có và thờ lạy một Thiên Chúa sinh ra trong máng cỏ, một Thiên Chúa sống và bước đi tại Giuđêa, một Thiên Chúa chết trên thập giá, một Thiên Chúa đã chết và nằm trong mồ.”[34] Vì thế, tương lai của nhân loại tìm thấy chuẩn mực của mình nơi khả năng đón nhận cách Thiên Chúa đến gần, chia sẻ gánh nặng của thế giới và biến đổi các tương quan từ bên trong. “Ôi kỳ diệu thay… con người là Thiên Chúa và vị Thiên-Chúa-làm-người ấy đi qua mọi giai đoạn, chịu đựng mọi trạng huống, nâng cao chúng, thánh hóa chúng, thần hóa chúng nơi chính mình!”[35] Điều cứu độ nhân loại chính là tình yêu Thiên Chúa đi xuống tận điểm mong manh nhất của lịch sử chúng ta và canh tân lịch sử ấy từ bên trong.
  4. Vì thế, như một tín hữu giữa các tín hữu, tôi mời gọi mọi người chiêm ngắm nơi khuôn mặt Con Thiên Chúa sự cao quý của nhân tính, vốn cũng chiếu sáng trên thời đại AI. Trong Đức Kitô, chúng ta được mời gọi cộng tác vào công trình tạo dựng, thay vì trở thành những người quan sát thờ ơ trước các tiến trình công nghệ đang giới hạn tự do và trách nhiệm của chúng ta.[36] Phẩm giá được Chúa Thánh Thần khắc ghi trong mỗi người chúng ta cũng được tỏ lộ nơi khả năng suy tư phê phán, chọn lựa và yêu thương cách tự do, cũng như xây dựng các tương quan chân thật. Không một hệ thống tính toán nào, dù tinh vi đến đâu, có thể tạo nên một trái tim biết hiến trao, hay một lương tâm biết phân định thiện ác. Ngay cả khi máy móc vượt trội về hiệu quả, khuôn mặt con người đang đòi được nhìn ngắm vẫn là trung tâm của lịch sử. Khuôn mặt con người ấy là sự viên mãn mà lịch sử đang hướng tới. Đó là mầu nhiệm “quy tụ”: niềm xác tín rằng Chúa Cha đã quyết định quy tụ muôn loài trên trời dưới đất về với Đức Kitô, vị Thủ Lãnh duy nhất (x. Ep 1,10). Trong kế hoạch ấy, không điều gì thật sự nhân bản sẽ bị đánh mất. Trái lại, mọi sự sẽ được thanh luyện và quy tụ trong Đấng Duy Nhất, Đấng thu gom mọi mảnh vụn của đời sống, mọi giọt lệ và mọi thành tựu đích thực của con người, cứu chúng khỏi hư vô và trao lại cho Chúa Cha trong tình trạng đã được cứu chuộc.

Một thân mình trong Đức Kitô

  1. Linh đạo mà chúng ta cần là linh đạo Thánh Thể, nghĩa là linh đạo của sự hiệp nhất Giáo Hội trong tình yêu. Mầu nhiệm Nhập Thể và mầu nhiệm Vượt Qua mặc khải một Thiên Chúa đi vào thân phận con người và biến đổi thân phận ấy bằng việc tự hiến. Hồng ân ấy vẫn hiện diện và hoạt động trong Bí tích Thánh Thể, nơi Chúa hiến ban chính mình và quy tụ Hội Thánh, để lễ dâng của Người trở thành nguyên lý hiệp nhất và nguồn mạch sự sống mới. Chính từ sự hiệp thông ấy mà tình liên đới Kitô giáo phát sinh, bởi “hiệp nhất với Đức Kitô cũng là hiệp nhất với tất cả những ai Người hiến mình cho họ.”[37] Như Thánh Augustinô đã giải thích cho các tân tòng trong Giáo Hội địa phương của ngài, bánh và rượu trên bàn thờ là bí tích của sự hiệp nhất các tín hữu trong Đức Kitô: “Điều được thấy chỉ là hình dạng hữu hình; điều được nắm bắt mang lại hoa trái thiêng liêng. Vậy giờ đây, nếu anh em muốn hiểu mình thánh Đức Kitô, hãy nghe Tông đồ Phaolô nói với các tín hữu: tất cả anh em là thân mình Đức Kitô (1 Cr 12,27). Nếu anh em là thân mình và là chi thể của Đức Kitô, thì chính bí tích của anh em được đặt trên bàn của Chúa; chính bí tích của anh em mà anh em lãnh nhận. Anh em đáp ‘Amen,’ và khi đáp như thế, anh em ưng thuận điều ấy. Vì anh em nghe lời: ‘Mình Thánh Chúa Kitô’ và đáp ‘Amen.’ Vậy hãy là chi thể của Thân Mình Đức Kitô, để lời Amen của anh em được chân thật!”[38]
  2. Lời “Amen” chúng ta thưa trong phụng vụ, Mình Thánh chúng ta ăn và Máu Thánh chúng ta uống, định hình toàn bộ đời sống chúng ta. Bí tích Thánh Thể “là một cuộc gặp gỡ hết sức cá vị với Chúa, nhưng không bao giờ chỉ đơn thuần là một hành vi đạo đức cá nhân.”[39] Trong Bí tích Thánh Thể, chúng ta thấy được cách hữu hình thực tại rằng chúng ta “là Hội Thánh của Đức Kitô, là các chi thể của Người, là thân mình của Người. Chúng ta là anh chị em trong Người. Và trong Đức Kitô, dù đông đảo và khác biệt, chúng ta vẫn là một: In Illo uno unum.”[40] Bí tích Thánh Thể mở chúng ta ra với công lý và sự chia sẻ, với mối quan tâm ưu tiên dành cho những ai bị đè nặng bởi nghèo đói hay bị gạt ra bên lề. Và trong khi các mạng lưới kinh tế và công nghệ mới có thể tạo ra loại trừ, cô lập và lệ thuộc, Hội Thánh – được nuôi dưỡng bởi Bí tích Thánh Thể – được mời gọi làm cho một mô hình khác trở nên hữu hình: mô hình gìn giữ các mối dây nhân bản, trao tiếng nói cho những người vô hình và bảo đảm rằng các tiến trình luôn hướng đến việc tôn trọng phẩm giá con người.

Công trường của thời đại chúng ta

  1. Linh đạo mà tôi muốn giới thiệu là linh đạo của “người kiến trúc sư khôn ngoan,” người được thúc đẩy bởi niềm hy vọng vào Nước Thiên Chúa và dấn thân xây dựng thế giới vì công ích (x. 1 Cr 3,10). Như tôi đã nói ở đầu suy tư này,[41] nhiệm vụ xây dựng trong thời đại chúng ta phải đặt tương quan với Thiên Chúa ở trung tâm. Quy luật của chúng ta phải là đón nhận các giới hạn của con người như một thực tại tự nhiên và tích cực, đồng thời phải được đánh dấu bởi trách nhiệm chung và một ngôn ngữ thấm nhuần Tin Mừng. Kết thúc suy tư này, kế hoạch xây dựng nền văn minh tình thương hiện ra rõ ràng hơn, và công trường ấy dường như đã bắt đầu hoạt động, đặc biệt nhờ rất nhiều viên đá sống động được kết hợp vững chắc với Đức Kitô, viên đá góc tường (x. 1 Pr 2,4-6). Trong nhiệm vụ này, chúng ta được mời gọi đảm nhận một vai trò tích cực, không ẩn náu trong thứ tình cảm thiêng liêng mơ hồ hay rút lui vào những thế giới nhỏ bé riêng mình. Chúng ta phải trung thành với chân lý, đầu tư vào giáo dục, vun trồng các tương quan, yêu mến công lý và hòa bình.
  2. Chúng ta hãy trung thành với chân lý! Sống giữa những dòng chảy không ngừng của thông tin, ý kiến và hình ảnh, chúng ta biết thật dễ dàng để các quyết định và sở thích bị ảnh hưởng bởi những thuật toán ngày càng tinh vi.[42] Trong bối cảnh ấy, điều khẩn thiết là đào luyện những trái tim biết yêu mến chân lý, biết chọn điều đúng dù nội dung hấp dẫn nhất lôi cuốn, và tìm kiếm sự khôn ngoan hơn là những kết quả tức thời. Chúng ta phải luôn đặt trước mắt mình chân lý về Thiên Chúa và về con người, như Đức Kitô đã mặc khải cho chúng ta. Chúng ta phải gạt bỏ cái nhìn cá nhân chủ nghĩa và kỹ thuật về nhân loại, như thể thực tại chỉ là vật chất để được uốn nắn theo các lợi ích ích kỷ, dù là cá nhân hay tập thể.[43] Thay vào đó, chúng ta hãy vun trồng điều Đức Thánh Cha Phanxicô gọi là “chủ nghĩa nhân tâm đặt trong bối cảnh,”[44] nghĩa là nhìn nhận con người như một thụ tạo được đặt trong mạng lưới tương quan với các sinh vật khác và với toàn thể công trình tạo dựng. Trung thành với chân lý đòi hỏi phải hội nhập các khả năng do công nghệ mang lại vào một khuôn khổ của sự khôn ngoan, có khả năng bảo vệ phẩm giá của mỗi người và tương lai của ngôi nhà chung.
  3. Chúng ta hãy đầu tư vào giáo dục, bắt đầu từ chính mình! Tất cả chúng ta cần học biết cách tương tác với thế giới kỹ thuật số theo một cách nhân bản, như một phần không thể thiếu của việc giáo dục đức tin và đời sống theo Tin Mừng. Thật vậy, chúng ta phải xem thế giới kỹ thuật số như một lục địa mới cần được loan báo Tin Mừng, một lục địa cần đến những nhà truyền giáo quảng đại và trưởng thành trong đức tin. Cách đặc biệt, chúng ta cần những người trưởng thành tái khám phá ơn gọi của mình như những nghệ nhân giáo dục, sẵn sàng làm việc kiên nhẫn mỗi ngày với sự nâng đỡ của những liên minh giáo dục rộng lớn và được chia sẻ. Ngày nay, đồng hành với trẻ em và người trẻ trong việc sử dụng công nghệ để phát triển các tương quan có trách nhiệm, giúp họ nhận ra các nguy cơ và chọn điều nuôi dưỡng tự do nội tâm, là một hình thức bác ái cụ thể và sẽ bảo vệ phẩm giá của họ. Dạy cho các thế hệ mới biết rằng tiến hóa công nghệ không đi theo một lộ trình đã được định sẵn, nhưng có thể được hướng dẫn bởi trách nhiệm cá nhân và tập thể, chính là một trong những phục vụ quý giá nhất dành cho công ích.
  4. Chúng ta hãy vun trồng các tương quan! Trong một thời đại đề cao tốc độ và sự phân mảnh, con người vẫn khao khát được chăm sóc và được nhìn nhận bởi những tâm trí biết lưu tâm, những lời nói nhân hậu và những đôi tay có khả năng dịu dàng. Văn hóa kỹ thuật số nhân lên các kết nối và mở ra những cơ hội mới cho tương tác; tuy nhiên, trái tim con người vẫn giữ một nhu cầu không thể hủy bỏ về sự gần gũi đích thực. Tôi mời gọi mọi người trân quý những nơi chốn và thời gian mà sự hiện diện thể lý vẫn mang tính quyết định, như các bữa ăn chung, các buổi gặp gỡ cộng đoàn Kitô hữu, thời gian dành cho người cô đơn và việc phục vụ người nghèo. Đó là những dấu chỉ của một nhân loại vẫn tin rằng thân xác của mỗi con người là nơi Thiên Chúa cư ngụ và là đền thờ của Chúa Thánh Thần. Chính giao ước giữa vinh quang và mong manh ấy trở thành tiêu chuẩn để đánh giá các mô hình nhân học do văn hóa đương đại đưa ra.
  5. Chúng ta hãy yêu mến công lý và hòa bình! Những công nghệ giúp truyền thông và tiếp cận tài nguyên dễ dàng hơn cũng có thể hậu thuẫn các mô hình khai thác những người dễ bị tổn thương nhất, tạo ra những hình thức nô lệ mới và thu lợi từ xung đột. Mỗi quyết định kỹ thuật hay kinh tế phải bao hàm sự phân định thiêng liêng và trở thành cơ hội để đánh giá xem các tiến bộ trong AI có đang cổ võ công lý và sự tham gia, hay đang tập trung của cải và quyền lực vào tay một thiểu số. Tôi khuyến khích việc xem xét cẩn trọng các chuỗi cung ứng của sản xuất kỹ thuật số, các điều kiện lao động bị che giấu đằng sau những thiết bị của chúng ta, và các cơ chế thu lợi từ thao túng và chiến tranh. Đồng thời, cần tìm ra những con đường thực tiễn để cổ võ công bằng, sự tham gia và chăm sóc công trình tạo dựng. Chúng ta công bố một niềm hy vọng bắt nguồn nơi Đấng đã từ trời xuống để “tạo nên một câu chuyện mới ở dưới trần.” Vì thế, những người tin được mời gọi dấn thân để một công lý cao cả hơn thay thế bất bình đẳng, và để kỹ nghệ chiến tranh được thay bằng nghệ thuật kiến tạo hòa bình.[45]
  6. Khi nhìn về tương lai, tôi muốn nhắc lại hình ảnh Nơkhêmia, người mà chúng ta đã chọn làm bạn đồng hành và người hướng dẫn ngay từ đầu. Nơkhêmia đã nghe tiếng kêu của một thành phố bị tàn phá, mang nỗi đau ấy vào lời cầu nguyện, phân định trước mặt Thiên Chúa, xin sự trợ giúp, được phép trở về, tổ chức công việc, đối diện với sự chống đối bên trong lẫn bên ngoài, và tái thiết tường thành Giêrusalem với sự trợ giúp của dân chúng, từng viên gạch một. Trong thời đại chuyển đổi kỹ thuật số này, tôi thấy nơi ông một dụ ngôn rất sống động về ơn gọi của chúng ta: không phải là những khán giả thụ động trước những rạn nứt xã hội và văn hóa, cũng không chỉ là những người bình luận về điều đang sụp đổ, nhưng là những người nam nữ sẵn sàng bước vào các công trường của lịch sử – các phòng thí nghiệm nghiên cứu, các công ty công nghệ, trường học, truyền thông, các định chế và cộng đồng địa phương – để tái thiết điều đã sụp đổ và bảo vệ điều đang bị đe dọa. Như Nơkhêmia, chúng ta cũng được mời gọi kết hợp lắng nghe với can đảm, cầu nguyện với trách nhiệm, để ngay cả khi não trạng kỹ trị hay các lợi ích phe phái dường như thắng thế, thành trì nhân loại vẫn có thể trở thành một nơi đáng sống hơn.
  7. Hình ảnh tái thiết Giêrusalem gợi lên lời hứa Tân Ước về thành thánh, trước hết được ban cho chúng ta như một hồng ân. Trong Sách Khải Huyền, Giêrusalem mới từ trời xuống như quà tặng dành cho toàn thể Dân Thiên Chúa, “sẵn sàng như tân nương trang điểm để đón tân lang” (Kh 21,2). Các tường thành Giêrusalem không còn là những công sự phòng vệ, nhưng là những trang sức quý giá của Hiền Thê của Con Chiên. Các cổng thành, mà Nơkhêmia đã chăm sóc cách cần mẫn, nay luôn rộng mở cho mọi dân tộc. Sự hiện diện của Thiên Chúa đem lại ánh sáng và sự sống cho mọi người. Thành ấy là một Êđen mới, với dòng nước hằng sống được ban cho người khát, và cây sự sống có lá “dùng để chữa lành các dân tộc” (Kh 22,2). Khi chờ đợi sự viên mãn của thành ấy, thị kiến này được đặt trước mắt chúng ta như một lời khích lệ – một lời mời gọi vượt qua chia rẽ và cùng nhau làm việc – bởi đó là con đường của Đức Giêsu Kitô, hôm qua, hôm nay và mãi mãi.

Bài ca hy vọng: Kinh Magnificat

  1. Sau khi đã suy tư về đức tin, vốn chiêm ngắm kế hoạch yêu thương của Chúa Cha; về đức ái, vốn hiệp nhất chúng ta trong một thân mình Giáo Hội; và về đức cậy, vốn nâng đỡ các hành động của chúng ta trong thế giới, trụ cột thứ tư của chương trình sống Kitô hữu này là cầu nguyện. Bài ca của Đức Maria đồng hành với sự dấn thân của chúng ta. Trước bà Êlisabét, người công bố rằng Mẹ đã trở thành Mẹ của Chúa, Đức Maria cất lên bài ca ngợi khen và vui mừng. Linh hồn Mẹ ngợi khen Đức Chúa, và thần trí Mẹ hớn hở vui mừng trong Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ của Mẹ, vì Người đã chọn một thiếu nữ trẻ trung, nghèo khó và khiêm hạ cho kế hoạch cứu độ của Người. Bỗng nhiên, Đức Maria nhìn thấy toàn bộ lịch sử dưới ánh sáng của mặc khải này. Không có gì thay đổi quanh Mẹ; hoàn cảnh xã hội – chính trị thời Mẹ vẫn như cũ. Người Rôma vẫn kiểm soát quê hương Mẹ, và dân Mẹ vẫn bị khuất phục và sỉ nhục. Tuy nhiên, mọi sự đã thay đổi bên trong Mẹ, và điều ấy cho phép Mẹ thấy điều vô hình. Thiên Chúa đã biểu dương sức mạnh cánh tay Người; Người đã phân tán những kẻ kiêu căng, hạ bệ những người quyền thế, nâng cao những kẻ khiêm nhường, ban đầy dư cho người đói khát và để người giàu có trở về tay trắng. Người đã độ trì Israel, tôi tớ của Người. Thiên Chúa “đứng về phía những người thấp bé. Kế hoạch của Người thường ẩn giấu bên dưới bối cảnh mơ hồ của các biến cố nhân loại, nơi ‘những kẻ kiêu căng, quyền thế và giàu có’ xem ra đang chiến thắng. Tuy nhiên, sức mạnh âm thầm của Người cuối cùng sẽ được tỏ lộ.”[46]
  2. Đức Trinh Nữ Maria không chỉ dạy chúng ta nhận ra công trình vô hình của Thiên Chúa, nhưng còn hướng cái nhìn của chúng ta đến “những điểm nơi nhân loại bị đổ vỡ và thế giới bị méo mó: sự đối nghịch giữa người khiêm nhường và kẻ quyền thế, người nghèo và người giàu, người no đủ và người đói khát,” dạy chúng ta “nhìn thế giới từ vị trí thấp bé: qua đôi mắt của những người đau khổ chứ không phải những kẻ quyền lực; nhìn lịch sử bằng đôi mắt của những người bé mọn, chứ không phải từ quan điểm của những người mạnh thế; giải thích các biến cố lịch sử từ góc nhìn của người góa phụ, trẻ mồ côi, khách lạ, trẻ em bị thương tích, người lưu đày và người phải trốn chạy.”[47] Như thế, Đức Trinh Nữ trở thành “thi sĩ và nữ ngôn sứ của Ơn Cứu Chuộc,” bởi trên môi Mẹ vang lên “bài thánh ca mạnh mẽ và đổi mới nhất từng được cất lên, kinh Magnificat; chính Mẹ mặc khải viễn tượng biến đổi của nền kinh tế Kitô giáo, hoa trái lịch sử và xã hội vẫn tiếp tục bắt nguồn và nhận sức mạnh từ Kitô giáo.”[48]
  3. Với cùng một đức tin như Đức Maria, chúng ta hãy trở nên “những người dệt nên hy vọng” trong thế giới của mình, biết chia sẻ điều ta là và điều ta có, để sự hiện diện của Chúa Giêsu lớn lên giữa chúng ta và Nước Trời được thành hình. Trong sự trung tín khiêm nhường của đời sống hằng ngày, ngay cả thời đại AI cũng có thể trở thành một thời điểm trong đó Chúa Thánh Thần làm phát sinh nền văn minh tình thương trong đời sống chúng ta. Thật vậy, Chúa vẫn tiếp tục làm cho mọi sự nên mới và ban cho mỗi thời đại khả năng trở thành một phần của lịch sử cứu độ dưới ánh sáng mầu nhiệm Nhập Thể. Tôi phó thác ước muốn của chúng ta cho Mẹ Đức Kitô, Người Nữ của kinh Magnificat, xin Mẹ hướng dẫn bước chân chúng ta trong thời kỳ biến đổi này và gìn giữ nơi mỗi người chúng ta đức tin chân thật vào Tin Mừng, để chúng ta làm chứng cho sự cao quý của nhân tính, mà Thiên Chúa đã chọn làm nơi cư ngụ.

Ban hành tại Rôma, bên Đền thờ Thánh Phêrô, ngày 15 tháng 5 năm 2026, năm thứ hai triều đại Giáo hoàng của tôi.

Giáo Hoàng Lêô XIV

[1] Cf. Saint Paul VI, Regina Caeli (17 May 1970): Insegnamenti di Paolo VI, vol.  VIII, 506.

[2] Cf. Francis, Encyclical Letter Fratelli Tutti (3 October 2020), 183: AAS 112 (2020), 1033-1034.

[3] Cf. Second Vatican Ecumenical Council, Pastoral Constitution Gaudium et Spes, 26: AAS 58 (1966), 1046-1047.

[4] Saint Paul VI, Address to the 20th General Assembly of the United Nations (4 October 1965): AAS 57 (1965), 881.

[5] United Nations, United Nations Charter, San Francisco (26 June 1945), Preamble.

[6] Cf. Francis Encyclical Letter Fratelli Tutti (3 October 2020), 258: AAS 112 (2020), 1061: “In recent decades, every single war has been ostensibly ‘justified.’ The Catechism of the Catholic Church speaks of the possibility of legitimate defense by means of military force, which involves demonstrating that certain ‘rigorous conditions of moral legitimacy’ have been met.  Yet it is easy to fall into an overly broad interpretation of this potential right.  In this way, some would also wrongly justify even ‘preventive’ attacks or acts of war that can hardly avoid entailing ‘evils and disorders graver than the evil to be eliminated.’”

[7] Cf. Dicastery for the Doctrine of the Faith — Dicastery for Culture and Education, Note Antiqua et Nova (14 January 2025), 99: AAS 117 (2025), 202-203.

[8] Cf.  ibid., 103: AAS 117 (2025), 204.

[9] Cf. Address to the Participants in the Plenary Session of the “Reunion of Aid Agencies for the Oriental Churches (ROACO)” (26 June 2025): AAS 117 (2025), 847-849.

[10] Cf. Francis, Message for the 53rd World Day of Peace (8 December 2019): AAS 112 (2020), 54-61.

[11] J.R.R. Tolkien, The Lord of the Rings. The Return of the King, Part III, Book Five, Chapter IX, New York 1965, 190.

[12]  Address to Representatives of the Media, (12 May 2025): AAS 117 (2025), 682.

[13] Ibid.

[14] Saint John Paul II, Message for the 31st World Day of Peace, (1 January 1998), 1: AAS 90 (1988), 147.

[15] Saint Augustine, Enarrationes in Psalmos, 84, 12: CCSL 39, Turnhout 1956, 1172-1173.

[16] Cf. Francis, Encyclical Letter Dilexit Nos (24 October 2024), 22: AAS 116 (2024), 1375-1376.

[17] Francis, Encyclical Letter Fratelli Tutti (3 October 2020), 115: AAS 112 (2020), 1008-1009.

[18] Cf. ibid., 261: AAS 112 (2020), 1062.

[19] Cf. Saint Paul VI, Address to the 20th General Assembly of the United Nations (4 October 1965): AAS 57 (1965), 878-879.

[20] Cf. Pius XII, Radio Message A Grave Hour (24 August 1939): AAS 31 (1939), 334.

[21] Giorgio La Pira, Riflessioni sul Concilio.  Address of Professor Giorgio La Pira, Mayor of Florence, to the “Guides de France”(Rome, 4 September 1962), Florence 1962, 6.

[22] Address to Participants in the Jubilee of Oriental Churches (14 May 2025): AAS 117 (2025), 686.

[23] Cf.  Francis, Encyclical Letter Fratelli Tutti (3 October 2020), 271: AAS 112 (2020), 1066.

[24] Cf. Francis, Appeal for Peace at Assisi for the World Day of Prayer for Peace “Thirst for Peace: Faiths and Cultures in Dialogue” (20 September 2016): AAS 108 (2016), 1124.

[25] Francis, Address to Members of the Diplomatic Corps accredited to the Holy See (9 January 2025): AAS 117 (2025), 110.

[26] Cf. Francis, Address to the Participants in the 38th Conference of the FAO (20 June 2013): AAS 105 (2013), 616-617.

[27] First “Urbi et Orbi”  Blessing (8 May 2025): AAS 117 (2025), 660.

[28]  Ibid.

[29] Cf. Homily at First Vespers on the Solemnity of Mary the Most Holy Mother of God (31 December 2025): L’Osservatore Romano, 2 January 2026, 1-2.

[30] Cf. Homily of the Mass during the Day (25 December 2025): L’Osservatore Romano, 27 December 2025, 3.

[31] Cf. ibid.

[32] Cf. Angelus on the Solemnity of the Epiphany (6 January 2026): L’Osservatore Romano, 7 January 2026, 3.

[33] Cf. Homily of the Mass during the Night (24 December 2025): L’Osservatore Romano, 27 December 2025, 2.

[34] P. de Bérulle, Discours de l’état et des grandeurs de Jésus, Discours IV, Unité de Dieu en l’incarnation: Œuvres complètes, Paris 1856, col. 218.

[35] Ibid .

[36]

[37] Benedict XVI, Encyclical Letter Deus Caritas Est (25 December 2005), 14: AAS 98 (2006), 228.

[38] Saint Augustine, Sermons, 272: In die Pentecostes ad infantes de sacramentoPL 38, Paris 1865, col. 1247.

[39] Benedict XVI, Homily at the Mass of the Lord’s Supper (21 April 2011): AAS 103 (2011), 321.

[40]  Address to the Roma Curia for the Exchange of Christmas Greetings (22 December 2025): L’Osservatore Romano, 22 December 2025, 6-7.

[41]  Cf. above, nos. 11-14.

[42] Cf. Address to the Conference “The Dignity of Children and Adolescents in the Age of Artificial Intelligence (13 November 2025): L’Osservatore Romano, 13 November 2025, 3.

[43] Cf. Benedict XVI, Encyclical Letter Caritas in Veritate (29 June 2009), 34: AAS 101 (2009), 668-670.

[44] Francis, Apostolic Exhortation Laudate Deum (4 October 2023), 67: AAS 115 (2023), 1059.

[45] Cf. Angelus on the Solemnity of the Epiphany (6 January 2026): L’Osservatore Romano, 7 January 2026, 3.

[46] Benedict XVI, General Audience (15 February 2006): L’Osservatore Romano, 16 February 2006, 4.

[47] Meditation on the occasion of the Prayer Vigil and Rosary for Peace (11 October 2025): L’Osservatore Romano, 13 October 2025, 2.

[48] Saint Paul VI, Homily at the Marian Shrine of Our Lady of Bonaria, (24 April 1970): AAS 62 (1970), 301.

Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận

Bài viết liên quan

0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x