close

MAGNIFICA HUMANITAS – PHẦN I – DẪN NHẬP, CHƯƠNG I VÀ II

Ngày đăng: 30/05/2026 Lượt xem: 48 Chuyên mục: ĐTC LÊÔ XIV
collage

MAGNIFICA HUMANITAS – PHẦN I – DẪN NHẬP, CHƯƠNG I VÀ II

DẪN NHẬP

  1. Nhân loại, được Thiên Chúa dựng nên với tất cả vẻ huy hoàng cao quý, hôm nay đang đứng trước một chọn lựa mang tính quyết định: hoặc là xây dựng một Tháp Babel mới, hoặc là kiến tạo một thành đô nơi Thiên Chúa và con người cùng cư ngụ với nhau. Mỗi thế hệ đều lãnh nhận trách nhiệm định hình thời đại của mình, hướng dẫn lịch sử trở thành nơi phẩm giá của mọi con người được bảo vệ, công lý được cổ võ và tình huynh đệ trở nên khả thể. Tuy nhiên, mỗi thời đại cũng mang nguy cơ tạo nên một thế giới bất nhân hơn và bất công hơn. Khi nhân loại đứng trước nguy cơ làm méo mó căn tính đích thực của mình, người Kitô hữu chúng ta hướng mắt lên Thiên Chúa Nhập Thể, bởi chúng ta biết rằng: “chỉ trong mầu nhiệm Ngôi Lời nhập thể mà mầu nhiệm con người mới thực sự được sáng tỏ.”[1] Nơi Đức Giêsu Kitô, nhân tính trong vẻ cao cả của mình trở thành Đường, Sự Thật và Sự Sống, mở ra con đường cho mỗi người chúng ta tiến tới sự viên mãn.
  2. Được xây dựng trên Đức Kitô là viên đá sống động, chúng ta cảm nghiệm quyền năng huyền nhiệm của Chúa Thánh Thần, và tin rằng mọi nỗ lực chân thành của con người nhằm cộng tác với Người để làm điều thiện đều sẽ được chúc lành bởi Chúa Cha trên trời, Đấng mà nơi Người chúng ta đặt trọn niềm hy vọng. Vì thế, chúng ta có thể nhiệt thành góp phần vào mọi sáng kiến nhằm xây dựng một thế giới công bằng hơn, đồng thời mời gọi người khác cộng tác để cổ võ sự phát triển toàn diện của mỗi con người. Chúng ta muốn đối thoại với mọi người nam nữ của thời đại hôm nay, những người cùng chia sẻ với chúng ta các biến cố, thao thức và khát vọng của nhân loại.[2] Cùng với họ, chúng ta tìm kiếm những con đường mới cho công ích và cho việc thăng tiến một đời sống xứng hợp với phẩm giá con người dành cho tất cả mọi người. Thật vậy, sự cởi mở đối thoại là một phần thiết yếu trong ơn gọi của Hội Thánh, bởi vì được thiết lập trong Đức Kitô như “bí tích… của sự hiệp thông với Thiên Chúa và của sự hợp nhất toàn thể nhân loại,”[3] Hội Thánh nhận ra lịch sử là nơi Tin Mừng chất vấn và định hướng kinh nghiệm nhân loại.
  3. Trong tinh thần ấy, Đức Giáo hoàng Lêô XIII đã ban hành Thông điệp Rerum Novarum vào năm 1891, và năm nay chúng ta hân hoan mừng kỷ niệm 135 năm văn kiện này với lòng biết ơn sâu xa. Với thông điệp này, vị tiền nhiệm đáng kính của tôi đã khởi xướng một suy tư về xã hội, kinh tế và chính trị mà ngày nay được gọi là “Học thuyết Xã hội của Hội Thánh.” Khi có người cho rằng Hội Thánh không nên phí sức vào những chuyện thế tục, nhưng chỉ nên tập trung loan báo sự sống đời đời, Đức Lêô XIII đã đáp lại bằng sự thực tế và khôn ngoan rằng việc công bố Tin Mừng không thể bỏ qua đời sống cụ thể của con người.[4] Từ đó đến nay, nhiều thập niên đã trôi qua; Huấn quyền, các mục tử, thần học gia và tín hữu vẫn tiếp tục suy tư về các vấn đề xã hội dưới ánh sáng Tin Mừng. Hôm nay, Học thuyết Xã hội của Hội Thánh đã trở thành một gia sản khôn ngoan, nơi chúng ta tìm thấy những nguyên tắc suy tư, những tiêu chuẩn phân định và phán đoán, cũng như những định hướng cụ thể cho hành động. Được đặt nền trên Thánh Kinh và Thánh Truyền, đồng thời đối thoại với các ngành khoa học, học thuyết này giúp chúng ta giải thích cách rõ ràng những thách đố của hiện tại và nhận ra những con đường thích hợp để sống chứng tá Kitô giáo cách minh bạch, vui tươi và phục vụ thế giới. Đây không phải là một tập hợp khái niệm bất động, nhưng là một thân thể sống động của chân lý, bảo vệ và giải thích ơn gọi của nhân loại hướng tới một đời sống viên mãn và công chính. Vì thế, tôi cũng muốn góp tiếng nói của mình vào truyền thống sống động ấy, khẩn xin Thần Khí Khôn Ngoan, Đấng hiện diện trong thế gian từ thuở ban đầu (x. Cn 8,22-31), trợ giúp chúng ta.

Những “res novae” của thời đại hôm nay

  1. Nếu Đức Lêô XIII đã nói về những “điều mới mẻ” (rerum novarum) của thời đại ngài, thì hôm nay chúng ta không thể chỉ lặp lại giáo huấn sâu sắc ấy cách đơn thuần. Trái lại, chúng ta phải cầu xin Thiên Chúa ban ơn khôn ngoan để đọc được những chuyển biến lớn lao của thời đại mình, đặc biệt là những tiến bộ công nghệ. Trong những năm gần đây, ngày càng rõ ràng rằng tiến trình số hóa, trí tuệ nhân tạo (AI) và robot học đang biến đổi thế giới chúng ta cách nhanh chóng và sâu rộng. Công nghệ tự nó không phải là một lực lượng đối nghịch với con người. Trái lại, từ khởi đầu lịch sử, công nghệ đã là “một thực tại hết sức nhân bản, gắn liền với quyền tự chủ và tự do của con người.”[5] Qua nhiều thế kỷ, sự phát triển công nghệ đã cải thiện đáng kể điều kiện sống của nhân loại. Tuy nhiên, mỗi giai đoạn tiến bộ cũng cho thấy tính mơ hồ của những công cụ có thể gây hại khi không được hướng về điều thiện. Nhưng hôm nay, chúng ta đang đứng trước một hoàn cảnh mới. Quyền lực và tầm ảnh hưởng của các công nghệ mới đang thấm sâu vào chính cơ cấu đời sống hằng ngày, định hình các tiến trình quyết định và tác động mạnh mẽ đến trí tưởng tượng tập thể: “Chưa bao giờ nhân loại có quyền lực lớn lao trên chính mình như hôm nay.”[6] Những công nghệ mới mở ra các chân trời mà chúng ta có thể hình dung nhưng chưa thể tiên liệu hết. Điều này làm cho việc đánh giá tác động tiềm tàng và những hậu quả lâu dài của chúng đối với phẩm giá con người và công ích trở nên phức tạp hơn bao giờ hết.
  2. Vì thế, bổn phận của chúng ta hôm nay là đối diện với những thách đố của thời đại bằng tư tưởng sáng suốt và tinh thần trách nhiệm. Cần thiết phải thiết lập những công cụ pháp lý thích hợp để bảo vệ công lý và ngăn chặn những biến dạng do quyền lực công nghệ gây nên. Tuy nhiên, vấn đề không chỉ dừng lại ở việc ban hành luật lệ. Như Đức Giáo hoàng Phanxicô đã cảnh báo, chúng ta phải thực tế tự hỏi: ai đang nắm giữ quyền lực này hôm nay và họ sử dụng nó như thế nào? “Cũng cần nhìn nhận rằng năng lượng hạt nhân, công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, kiến thức về ADN của chính chúng ta, cùng nhiều khả năng khác mà chúng ta đã đạt được… đã trao cho những người sở hữu tri thức ấy – đặc biệt là các nguồn lực kinh tế để sử dụng chúng – một quyền thống trị đáng kinh ngạc trên toàn thể nhân loại và thế giới.”[7] Trước đây, Nhà nước phần lớn giữ vai trò định hướng và điều phối sự đổi mới. Nhưng ngày nay, những động lực chính của sự phát triển lại thuộc về các nhóm tư nhân, thường mang tính xuyên quốc gia, với nguồn lực và khả năng can thiệp vượt quá nhiều chính phủ. Vì thế, quyền lực công nghệ mang một chiều kích “tư nhân” chưa từng có, khiến việc phân định, điều hành và hướng dẫn quyền lực ấy về công ích trở nên khó khăn hơn.
  3. Chính vì vậy, cần khởi sự một tiến trình phân định chung để nhận ra những cội rễ thiêng liêng và văn hóa của các biến đổi đang diễn ra. Nếu chỉ tập trung vào những tình huống cấp bách, chúng ta có nguy cơ để cho chuỗi khủng hoảng liên tiếp quyết định hướng đi của mình. Chúng ta đang sống trong một giai đoạn chuyển mình mau lẹ, một cuộc “thay đổi thời đại,” trong đó – khi có người tranh giành tương lai của các công nghệ mới, cũng có người dấn thân suy tư về chúng – thì phần lớn nhân loại chỉ đứng nhìn và chờ đợi, hy vọng điều tốt đẹp nhất sẽ xảy ra. Chính vì thế, những câu hỏi thiết yếu đang thôi thúc lương tâm chúng ta và không thể né tránh: Chúng ta đang đi về đâu? Chúng ta muốn hướng đến mục tiêu nào? Với tư cách là một dân tộc và một cộng đồng nhân loại, chúng ta phải chọn con đường nào?

Hai hình ảnh Kinh Thánh

  1. Để trả lời những câu hỏi ấy và phân định cách có trách nhiệm trong thời đại trí tuệ nhân tạo, tôi muốn nhắc lại hai hình ảnh trong Kinh Thánh: việc xây Tháp Babel (x. St 11,1-9) và việc tái thiết tường thành Giêrusalem (x. Nkm 2–6). Câu chuyện Babel trong sách Sáng Thế, xuất hiện ở buổi đầu lịch sử nhân loại, ngay sau gia phả các con cháu ông Nôê. Sau khi định cư tại đồng bằng đất Sinar, con người quyết định xây một thành phố và một ngọn tháp “cao chọc trời” (St 11,4). Vì sợ bị phân tán khắp mặt đất, họ tìm cách bảo đảm cho mình sự ổn định và quyền lực, nhất là để “làm cho mình một danh tiếng.” Đó là một công trình vĩ đại: một ngôn ngữ duy nhất, một công nghệ duy nhất, một hướng đi duy nhất. Nhưng dự án ấy ẩn chứa một nguy cơ sâu xa. Đó là công trình được hình thành mà không quy chiếu về Thiên Chúa, được nâng đỡ bởi một thứ đồng nhất hóa loại bỏ khác biệt và chọn sự đồng dạng thay vì hiệp thông. Khi một thành phố được xây dựng trên lòng kiêu ngạo và ảo tưởng tự mãn, truyền thông sẽ đổ vỡ, ngôn ngữ trở nên hỗn loạn và con người không còn hiểu nhau nữa. Kết quả không phải là hiệp nhất nhưng là phân tán. Babel cho thấy giới hạn của mọi nỗ lực – dù có vẻ huy hoàng đến đâu – nếu phát xuất từ việc tự khẳng định mình, hy sinh phẩm giá con người cho hiệu quả và muốn chạm tới trời cao mà không có phúc lành của Thiên Chúa.
  2. Trái lại, sách Nơkhemia mở ra trong bối cảnh đầy mong manh của lịch sử Israel cổ đại. Sau thời lưu đày Babylon, một phần dân chúng trở về Giêrusalem, nhưng thành này vẫn còn đổ nát, tường thành sụp đổ và cổng thành bị thiêu rụi (x. Nkm 1–2). Ông Nơkhemia, một người Do Thái phục vụ vua Ba Tư Artaxerxes, nghe tin về tình trạng tang thương của quê hương tổ tiên. Trước khi hành động, ông ăn chay, cầu nguyện và chuyển cầu cho dân mình. Sau đó, ông xin vua cho trở về Giêrusalem, và khi đến nơi, ông âm thầm khảo sát những phần tường thành bị phá hủy. Ông không áp đặt giải pháp từ trên xuống. Ông quy tụ các gia đình, giao cho mỗi gia đình một đoạn tường để xây lại, lắng nghe những lo âu của họ, phối hợp các nỗ lực và đối diện với mọi chống đối. Trình thuật cho thấy thành phố được tái sinh không phải nhờ sáng kiến của một cá nhân, nhưng nhờ trách nhiệm chung của mọi người: đàn ông, phụ nữ, tư tế, thợ thủ công, gia trưởng và người trẻ đều góp phần. Đây là một công trình đặt Thiên Chúa ở trung tâm, tái thiết các tương quan trước khi xây lại những bức tường bằng đá. Nhờ đó, Giêrusalem xưa tìm lại được một ngôn ngữ chung – không phải ngôn ngữ của sự đồng nhất, nhưng là ngôn ngữ của hiệp thông, tức sự hòa điệu phát sinh khi mỗi người đảm nhận phần việc của mình và nhìn nhận sức mạnh đến từ Chúa.
  3. Dưới ánh sáng của hai hình ảnh ấy, Chúa Thánh Thần đang chất vấn chúng ta hôm nay về tương quan giữa con người với công nghệ và cuộc cách mạng số đang diễn ra. Những khám phá khoa học là những nén bạc được trao cho nhân loại để sinh hoa kết quả (x. Mt 25,14-30). Công nghệ có khả năng chữa lành, kết nối, giáo dục và bảo vệ ngôi nhà chung của chúng ta; nhưng nó cũng có thể chia rẽ, loại trừ và tạo nên những hình thức bất công mới. Xét theo nghĩa trừu tượng, công nghệ tự nó không phải là giải pháp cho các vấn đề nhân loại, cũng không tự bản chất là điều xấu. Tuy nhiên, trong thực tế, công nghệ không bao giờ hoàn toàn trung lập, vì nó mang dấu ấn của những người tạo ra, tài trợ, điều hành và sử dụng nó. Do đó, chọn lựa căn bản không phải là “có” hay “không” với công nghệ, nhưng là: xây Babel hay tái thiết Giêrusalem; chọn một quyền lực muốn thống trị trời cao hay chọn một dân tộc cùng nhau cộng tác trước mặt Thiên Chúa để xây dựng lại những bức tường của sự chung sống huynh đệ.
  4. Vì thế, chúng ta phải tránh “hội chứng Babel”: thứ ngẫu tượng hóa lợi nhuận khiến người yếu thế bị hy sinh; thứ đồng nhất hóa làm vô hiệu mọi khác biệt; và ảo tưởng rằng chỉ cần một ngôn ngữ duy nhất – kể cả ngôn ngữ kỹ thuật số – là có thể diễn tả tất cả, kể cả mầu nhiệm con người, thành dữ liệu và hiệu năng. Nguy cơ phi nhân hóa – xây dựng một tương lai loại trừ Thiên Chúa và biến tha nhân thành phương tiện – là một cám dỗ vừa xưa vừa mới, hôm nay khoác lên mình dáng vẻ kỹ thuật. Trái lại, chúng ta hãy chọn “con đường Nơkhemia,” con đường nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cùng nhau cộng tác để biến Thành Đô Thiên Chúa thành nơi an toàn cho những người lưu đày trở về. Tái thiết hôm nay nghĩa là nhìn nhận rằng chính từ sự đa dạng của các tiếng nói và viễn tượng – dù đôi khi làm chúng ta nhớ đến sự hỗn loạn của Babel – lại nảy sinh một khả thể tươi sáng. Đó là khả thể cùng nhau xây dựng, biến khác biệt thành nguồn lực, và làm cho việc lắng nghe cùng đối thoại trở thành nền tảng chung để vun trồng công lý và tình huynh đệ. Trong công trình chung ấy, các Kitô hữu khám phá vai trò đặc biệt của mình là hướng mọi hành động về Thiên Chúa, để dưới ánh sáng của Người, sự đa nguyên không tan biến thành hỗn loạn, nhưng nhờ thực hành tính hiệp hành, trở thành không gian nơi nhân loại tìm lại nền tảng vững chắc và cùng đích tối hậu của mình. Trong sách Khải Huyền, thánh Gioan thấy Giêrusalem mới “từ trời, từ nơi Thiên Chúa mà xuống” (Kh 21,2) như một quà tặng dành cho toàn thể nhân loại. Và thị kiến đầy ân sủng ấy là lời mời gọi chúng ta – những Kitô hữu – cùng nhau làm việc để xây dựng một đời sống cộng đoàn đầy hòa bình, công chính, và xứng hợp với phẩm giá con người giữa những “thành” của thế giới hôm nay.
  5. Xây dựng một thành đô đặt nền trên công ích trước hết đòi hỏi phải xây dựng trên một tương quan vững bền với Thiên Chúa. Điều ấy có nghĩa là nhận ra rằng chân lý về tình yêu của Người mời gọi chúng ta bước vào sự sống “dồi dào” (Ga 10,10) và hiệp thông với Người. Như thánh Augustinô, chúng ta cũng có thể thưa lên: “Lạy Chúa, Chúa đã dựng nên chúng con cho Chúa, và lòng chúng con mãi khắc khoải cho đến khi được nghỉ yên trong Ngài.”[8] Thật vậy, Thiên Chúa đã khắc ghi nơi lòng con người một khát vọng hạnh phúc bao trùm mọi chiều kích của cuộc sống. Trong cuộc đối thoại với con người thời đại hôm nay, Hội Thánh nhận ra nhu cầu khẩn thiết phải bảo vệ và hướng dẫn khát vọng ấy tới chân lý sâu xa nhất của nó.
  6. Thứ đến, xây dựng cho công ích nghĩa là chấp nhận những giới hạn và yếu đuối của con người mà không xem chúng như một lỗi cần phải loại trừ. Hôm nay, khát vọng đạt tới sự viên mãn của đời sống nhân loại có nguy cơ bị dẫn sai hướng bởi những mục tiêu đầy mê hoặc, chẳng hạn như lời hứa của công nghệ muốn giải thoát con người khỏi mọi yếu đuối, hay những mô hình phúc lợi loại bỏ biết bao dân tộc khỏi tiến trình phát triển. Quá thường xuyên, chúng ta đặt hy vọng nơi những “nâng cấp” vô giới hạn, nơi những kiểu tiến bộ làm gia tăng bất bình đẳng, hay nơi những giải pháp tức thời không thể chữa lành các vết thương của con người. Hậu quả là, trong khi một số người theo đuổi ảo tưởng tự khẳng định vô hạn, thì nhiều người khác lại bị tước mất cả những nhu cầu căn bản nhất. Với tiếng nói vừa kiên quyết vừa khiêm tốn, Hội Thánh nhắc nhở chúng ta rằng sự viên mãn đích thực không đạt được bằng việc loại trừ yếu đuối, nhưng bằng sự phát triển hài hòa. Sự viên mãn ấy được tìm thấy nơi tự do và trách nhiệm gắn kết với nhau trong sự chăm sóc lẫn nhau và tình liên đới chân thành; nơi tiến bộ được đo lường bằng phẩm giá của mỗi người và thiện ích của mọi dân tộc.
  7. Hơn nữa, xây dựng một thế giới trong đó mọi người đều có thể phát triển đòi hỏi trách nhiệm chung và lòng can đảm. Không ai có thể một mình gánh vác những thách đố mà thế giới đang phải đối diện; nhưng cũng không ai quá yếu đến nỗi không thể góp phần của mình, bởi vì “quyền năng được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối” (2 Cr 12,9). Mỗi người đều được trao cho một phần bức tường để xây dựng: các nhà khoa học và nghiên cứu, doanh nhân và người lao động, nhà giáo dục và nhà lập pháp, xã hội dân sự, các phong trào quần chúng và các cộng đoàn đức tin. Đây chính là logic của nguyên tắc bổ trợ (subsidiarity), nguyên tắc đề cao sự cộng tác giữa các thế hệ, các dân tộc, các ngành chuyên môn và các nền văn hóa như con đường tốt đẹp nhất để xây dựng ổn định, thịnh vượng và hòa bình. Chúng ta không nên sợ hãi trước những căng thẳng hay khác biệt, bởi chúng có thể trở thành nguồn lực sáng tạo nếu được hướng dẫn bởi trách nhiệm chung.
  8. Sau cùng, xây dựng công ích đòi hỏi một ngôn ngữ mang tinh thần Tin Mừng. Chúng ta phải tránh những lời lẽ hạ nhục hay đối kháng, nhưng chọn sự rõ ràng soi sáng và sự chân thành mở ra những khả thể mới. Chúng ta không thể dung túng cho những nhiệt tình ngây thơ, cũng không được nuôi dưỡng những nỗi sợ vô căn cứ. Trái lại, hãy thiết lập những tiêu chuẩn phân định – phẩm giá con người, đích đến phổ quát của của cải, ưu tiên dành cho người nghèo, việc chăm sóc ngôi nhà chung và hòa bình – rồi chuyển hóa các tiêu chuẩn ấy thành những thực hành cụ thể như hoạch định có trách nhiệm, đánh giá tác động nhân bản và xã hội, bao gồm những người dễ bị tổn thương nhất, cổ võ giáo dục kỹ thuật số và hướng dẫn nghiên cứu cũng như kỹ nghệ phục vụ công lý và hòa bình.

Trung thành với phẩm giá làm người

  1. Trong Năm Thánh Thường lệ 2025 vừa qua, chúng ta đã bước đi như những người hành hương của hy vọng và lãnh nhận biết bao hồng ân. Được củng cố bởi những ân huệ ấy, chúng ta có thể tiến bước với lòng tín thác để đối diện với những công việc nặng nề và những thách đố cam go đang chờ đợi phía trước. Trong thời đại trí tuệ nhân tạo, khi phẩm giá con người bị đe dọa bởi những hình thức phi nhân hóa mới, bổn phận khẩn thiết của chúng ta là phải luôn giữ mình thật sự là con người. Chúng ta phải yêu mến gìn giữ vẻ cao quý của nhân tính mà Thiên Chúa đã ban cho chúng ta và đã được mặc khải trọn vẹn nơi Đức Kitô – vẻ huy hoàng mà không một cỗ máy nào có thể thay thế. Tiến bộ đích thực luôn phát sinh từ một trái tim mở ra với tha nhân, một trí tuệ biết lắng nghe và một ý chí tìm kiếm điều hiệp nhất thay vì chia rẽ.
  2. Tôi gửi lời khẩn thiết này đến mọi tín hữu Công giáo, mọi Kitô hữu và tất cả những người thiện chí. Đừng sợ làm bẩn đôi tay mình nơi “công trường” của thời đại hôm nay. Như ông Nơkhemia, chúng ta hãy cầu nguyện, hoạch định cách khôn ngoan và kiên trì lao động, luôn đặt Thiên Chúa ở vị trí ưu tiên trong hành động và đặt con người ở trung tâm mọi chọn lựa. Nhờ đó, những “viên đá bị loại bỏ” – người nghèo, người đau yếu, người di dân và những người bé mọn nhất – sẽ trở thành đá tảng góc tường, và một mái nhà chung vững chắc, đón nhận mọi người, sẽ mọc lên trên mặt đất, nơi “tín nghĩa ân tình nay hội ngộ, hòa bình công lý đã giao duyên” (x. Tv 85,10). Đó là phúc lành chúng ta cầu xin nơi Thiên Chúa; và nhiệm vụ đặt trước mắt chúng ta là trở nên những người xây dựng hiệp thông chứ không phải những kiến trúc sư của Babel. Chúng ta được mời gọi trở thành những người phục vụ Nước Trời đang đến, thay vì làm chủ những ngọn tháp mang định mệnh huỷ hoại. Với trái tim của một mục tử và người cha, tôi mời gọi mọi người từ bỏ việc dựng thêm một Tháp Babel mới và cùng nhau xây dựng công ích, để nhân loại không bao giờ đánh mất vẻ đẹp của mình, và thế giới một lần nữa nhận ra trái tim con người chính là nơi Thiên Chúa muốn ngự trị.

CHƯƠNG MỘT

MỘT TIẾP CẬN NĂNG ĐỘNG TRUNG THÀNH VỚI TIN MỪNG

  1. Trong chương đầu tiên này, tôi muốn trình bày khái quát việc Học thuyết Xã hội của Hội Thánh đã được hình thành như thế nào trong Huấn quyền gần đây của các Giáo hoàng và trong Công đồng Vaticanô II, nhằm cho thấy tính năng động của học thuyết ấy. Thật vậy, trong mỗi thời đại, những res novae – những “điều mới mẻ” – đòi hỏi giáo huấn này phải đối diện với các vấn đề lịch sử dưới ánh sáng của Chân lý mặc khải. Về phương diện này, trí tuệ nhân tạo cũng không nên chỉ được xem như một chủ đề mới để nghiên cứu hay một cuộc khủng hoảng cần quản lý, nhưng là một sự phát triển đang chất vấn chính những phạm trù của Học thuyết Xã hội từ bên trong, đòi hỏi học thuyết ấy phải được đào sâu hơn nữa trong sự trung thành với Tin Mừng.
  2. Tuy nhiên, cái nhìn tổng quan này sẽ khó hiểu nếu trước tiên chúng ta không làm sáng tỏ một vài nguyên tắc căn bản liên quan đến cách Hội Thánh hiện diện trong lịch sử và tương quan với thế giới. Nếu không, Học thuyết Xã hội rất dễ bị xem như một sự can thiệp không thích đáng vào “những chuyện trần thế” hay như một bộ quy tắc luân lý áp đặt từ bên ngoài. Thực ra, học thuyết ấy phát sinh từ một Hội Thánh cùng bước đi với nhân loại, nhìn nhận tính tự trị của các thực tại trần thế và sự phân biệt giữa cộng đoàn Giáo hội với cộng đồng chính trị. Chính vì thế, Hội Thánh nỗ lực phục vụ công ích.

Một Giáo Hội đang lữ hành qua dòng lịch sử nhân loại

  1. Hội Thánh hiện diện trong thế giới như dấu chỉ của sự hiệp nhất cho toàn thể gia đình nhân loại. Hội Thánh nhận ra những vấn đề và thách đố của thời đại hôm nay như bối cảnh cụ thể để thi hành ơn gọi riêng của mình: lắng nghe, đối thoại, phục vụ và quan tâm đến tất cả những gì liên hệ đến đời sống của con người hôm nay. Sự dấn thân vào đời sống nhân loại giúp Hội Thánh ngày càng hiểu rõ hơn rằng sứ mạng của mình mang chiều kích lịch sử và bao hàm trách nhiệm đối với cách thức các tương quan xã hội được xây dựng. Vì thế, Hội Thánh không thể tự xem mình như người xa lạ đối với những lực lượng đang định hình xã hội. Trái lại, Hội Thánh tích cực tham gia vào các tiến trình qua đó xã hội được phát triển và tổ chức, đồng thời đóng góp phần mình vào việc kiến tạo một xã hội công bằng và huynh đệ hơn. Đức Giáo hoàng Phanxicô đã nhấn mạnh chiều kích lịch sử này của sứ mạng Hội Thánh: “Không ai có thể đòi tôn giáo phải bị giam hãm trong lãnh vực riêng tư của đời sống cá nhân, không được ảnh hưởng đến đời sống xã hội và quốc gia, không được quan tâm đến sự lành mạnh của các thể chế dân sự, hay không có quyền lên tiếng về những biến cố ảnh hưởng đến xã hội.”[9]
  2. Ơn gọi và bổn phận của Hội Thánh là đồng hành với nhân loại trong dòng lịch sử cụ thể, khiến Hội Thánh nhìn nhận rằng các thực tại trần thế có đặc tính và trật tự riêng của chúng. Công đồng Vaticanô II đã diễn tả nguyên tắc này cách đặc biệt chính xác trong Hiến chế Mục vụ Gaudium et Spes, văn kiện mà chúng ta đã hân hoan mừng 60 năm vào ngày 7 tháng 12 năm 2025: “Nếu bởi sự tự trị của các thực tại trần thế mà người ta hiểu rằng các thụ tạo và xã hội có những quy luật và giá trị riêng của mình… thì đòi hỏi về sự tự trị ấy hoàn toàn chính đáng.”[10] Khẳng định này cho thấy công trình tạo dựng mang dấu ấn của sự thiện nguyên thủy mà cái nhìn nhân loại phải bảo vệ, vun trồng và đưa tới viên mãn. Trong chiều hướng ấy, Hội Thánh tự hiến mình như một sự hiện diện giúp giải thích thực tại trong tất cả chiều sâu của nó. Với sự khiêm tốn nhưng kiên định, Hội Thánh nâng đỡ những chọn lựa cổ võ phẩm giá của mỗi con người, sự hiệp nhất của các cộng đồng và thiện ích của mọi người. Hội Thánh đứng bên cạnh thế giới mà không áp đặt lên thế giới, để lời hứa về công lý và hòa bình mà Chúa Thánh Thần tiếp tục nuôi dưỡng trong lòng nhân loại có thể trổ sinh trong mọi nỗ lực của con người.
  3. Khi nhìn nhận rằng chính Thiên Chúa nâng đỡ tự do của con người trong tiến trình lịch sử, Công đồng Vaticanô II đã khẳng định sự phân biệt giữa cộng đoàn Giáo hội và cộng đồng chính trị, nhấn mạnh rằng mỗi bên phải hoạt động với sự tự trị thích đáng của mình. Sự hiện diện của Hội Thánh trong thế giới cũng được diễn tả qua tương quan của Hội Thánh với xã hội dân sự và các định chế công quyền. Khi đối thoại với các thực tại ấy, Hội Thánh nhìn nhận giá trị của đời sống xã hội và chính trị, đồng thời tôn trọng trách nhiệm riêng của chúng, nâng đỡ tất cả những gì phục vụ thiện ích của con người và củng cố nền tảng xã hội. Hội Thánh không đòi thay thế vai trò của Nhà nước. Trái lại, Hội Thánh trân trọng những ai dấn thân cho công ích và mạnh mẽ nhìn nhận trách nhiệm của các định chế dân sự trong xã hội. Tuy nhiên, sứ mạng được trao phó cho Hội Thánh cũng thúc đẩy Hội Thánh lên tiếng trước những đau khổ cụ thể của con người thời đại hôm nay. Sự gần gũi này không xuất phát từ ý muốn thay thế các định chế dân sự, càng không phải là một sự phê phán ngầm đối với công việc của họ, nhưng phát sinh từ đức ái Tin Mừng, thúc đẩy Hội Thánh đến gần những vết thương của nhân loại khi chúng trở nên nghiêm trọng hơn. Khi can thiệp, Hội Thánh hành động theo gương người Samari Nhân hậu, với sự kín đáo và gần gũi, ý thức rằng điều phát sinh từ nhu cầu khẩn cấp không thể trở thành chuẩn mực thường xuyên hay thay thế trách nhiệm thể chế vốn thuộc về cộng đồng dân sự.
  4. Chính từ việc nhìn nhận kép này – sự tự trị của các thực tại trần thế và sự phân biệt giữa lãnh vực Giáo hội với lãnh vực chính trị – chúng ta mới hiểu rõ hơn định hướng mà Công đồng Vaticanô II đã đặt ra cho Hội Thánh trong tương quan với thế giới. Gaudium et Spes nhắc nhớ rằng: “Nhiệm vụ của toàn thể Dân Thiên Chúa, đặc biệt là các mục tử và thần học gia, là lắng nghe và phân định nhiều tiếng nói của thời đại, rồi giải thích chúng dưới ánh sáng Lời Chúa, để chân lý mặc khải được thấu hiểu sâu xa hơn, được hiểu rõ hơn và được trình bày cách thích hợp hơn.”[11] Việc lắng nghe “nhiều tiếng nói” ấy không chỉ là một thao tác xã hội học, nhưng đòi hỏi sự phân định thiêng liêng. Được Chúa Thánh Thần hướng dẫn, Dân Thiên Chúa nhận ra trong các biến chuyển văn hóa và xã hội vừa có những dấu chỉ của sự hiện diện Đức Kitô – Đấng đang đến và dẫn dắt lịch sử tới chỗ viên mãn – vừa có những lệch lạc che khuất dung nhan Người. Nhờ đó, cốt lõi của chân lý mặc khải không bị thay đổi, nhưng được khai mở và tiếp nhận như chuẩn mực sống động để hướng dẫn các chọn lựa cụ thể, khơi lên những con đường hoán cải cá nhân cũng như cộng đoàn, cổ võ những cải tổ cơ cấu và nâng đỡ các hình thức chứng tá Tin Mừng mới trong đời sống công cộng. Lịch sử vì thế được hiểu như một trong những nơi Hội Thánh để cho Chúa Thánh Thần dạy mình về sức mạnh nhân hóa của Tin Mừng; và Hội Thánh học cách phát triển giáo huấn của mình để phục vụ phẩm giá của mỗi người và thiện ích của mọi dân tộc.

Sự khôn ngoan của Lời Chúa trong đối thoại với các khoa học nhân văn

  1. Hội Thánh nhìn nhận tất cả những ai chân thành tìm kiếm “chân – thiện – mỹ” như những người bạn đồng hành trên hành trình, đồng thời xem họ là “những đồng minh quý giá”[12] trong việc bảo vệ phẩm giá con người và chăm sóc công trình tạo dựng. Theo đường hướng mục vụ của Công đồng Vaticanô II – mời gọi lắng nghe, phân định và giải thích các dấu chỉ thời đại dưới ánh sáng Lời Chúa – Hội Thánh không sợ gặp gỡ tri thức nhân loại. Thật vậy, Lời Chúa cung cấp những tiêu chuẩn chắc chắn để kiến tạo những con đường công lý và mở ra những nẻo đường hòa giải và hòa bình giữa các dân tộc. Khi áp dụng những tiêu chuẩn ấy vào các hoàn cảnh phức tạp của thời đại hôm nay, đóng góp của triết học và các khoa học nhân văn, xã hội là điều thiết yếu. Những ngành học này giúp chúng ta hiểu sâu hơn và phân tích chính xác hơn các động lực văn hóa, kinh tế và chính trị. Thánh Gioan Phaolô II nhắc lại rằng Hội Thánh đón nhận những đóng góp của các khoa học xã hội để “rút ra từ đó những hiểu biết cụ thể giúp Hội Thánh thi hành nhiệm vụ huấn quyền của mình.”[13] Việc đối thoại với các hình thức tri thức ấy không làm suy giảm sức mạnh của Tin Mừng. Trái lại, nó giúp nhận ra rõ ràng hơn những gì thật sự phục vụ sự sống của con người và cộng đồng. Theo cùng viễn tượng đó, Đức Giáo hoàng Phanxicô nhấn mạnh rằng trước nhiều vấn đề cụ thể, Hội Thánh không đòi đưa ra “một ý kiến dứt khoát,”[14] nhưng nhìn nhận tầm quan trọng của việc lắng nghe nghiên cứu khoa học và cổ võ một cuộc tranh luận nghiêm túc, trung thực giữa các chuyên gia, đồng thời đón nhận sự đa dạng quan điểm.
  2. Được nuôi dưỡng nhờ cuộc đối thoại phong phú giữa Tin Mừng và tri thức nhân loại, Hội Thánh dần dần phát triển Học thuyết Xã hội của mình, vun trồng trong lịch sử một gia sản khôn ngoan mang tính nhất quán thần học và nhân học, bắt nguồn từ cái nhìn Kitô giáo về con người. Chính vì gia sản này phát sinh từ đức tin và từ một nhãn quan về thực tại tương ứng với đức tin ấy, nên nó không phải là một tập hợp các giải pháp kỹ thuật hay một mô hình kinh tế – chính trị đặt đối lập với những mô hình khác. Nó thuộc về một trật tự khác,[15] tức là trật tự của những nguyên tắc định hướng việc giải thích các biến cố và nâng đỡ một cách hiểu mang tính Tin Mừng về các tiến trình lịch sử cùng những chọn lựa phát sinh từ đó. Chính ở đây nằm vai trò riêng của Học thuyết Xã hội: không nhằm thay thế trách nhiệm của chính trị hay các định chế, nhưng như nền tảng cho việc phân định chung, giúp nhận ra và cổ võ mọi điều phục vụ phẩm giá con người, sức sống của cộng đồng và công ích.

Học thuyết Xã hội như một tiến trình phân định chung

  1. Khi hiểu rằng chân lý là một quà tặng để chia sẻ chứ không phải một sở hữu để độc quyền nắm giữ, Hội Thánh được giải thoát khỏi cám dỗ tìm kiếm những hình thức hiện diện dựa trên quyền lực. Để tái khám phá lối tiếp cận Tin Mừng trong việc công bố chân lý cách hiền hòa chứ không áp đặt, thánh Gioan Phaolô II đã mời gọi chúng ta thành thật nhìn lại những thời điểm mà người ta từng dung túng cho “sự bất khoan dung và cả việc sử dụng bạo lực để phục vụ chân lý.”[16] Theo cùng tinh thần ấy, tôi cũng đã khẳng định rằng Hội Thánh “không đòi mình độc quyền chân lý,”[17] bởi chân lý không phải là lãnh thổ cần bảo vệ, nhưng là thiện ích cần được sẻ chia. Đức Giáo hoàng Phanxicô diễn tả cùng một viễn tượng qua câu nói nổi tiếng: “thời gian lớn hơn không gian.”[18] Điều quan trọng nhất không phải là chiếm giữ những vị trí quyền lực hay bảo vệ những pháo đài văn hóa, nhưng là khởi xướng những tiến trình tốt đẹp và giúp chúng trưởng thành. Nhờ đó, chân lý Tin Mừng không bị áp đặt từ bên trên, nhưng lớn lên theo thời gian giữa những đan xen cụ thể của đời sống, cộng đồng và văn hóa. Đó không phải là một chân lý sợ hãi sự khác biệt, nhưng là chân lý đón nhận và hướng dẫn chúng. Chân lý ấy không loại bỏ xung đột, nhưng biến đổi chúng, quy tụ lại những gì lịch sử thường làm phân tán. Hình ảnh khối đa diện (polyhedron)[19] có thể minh họa cho điều này: một chân lý duy nhất của Tin Mừng được phản chiếu dưới nhiều góc độ khác nhau.
  2. Thái độ cởi mở trước chân lý – vừa duy nhất vừa đa dạng – diễn tả sâu xa tính công giáo của Hội Thánh, vì Hội Thánh ôm lấy toàn thể gia đình nhân loại nhưng cũng hiện diện giữa những hoàn cảnh cụ thể của các dân tộc và nền văn hóa. Công đồng Vaticanô II nhắc nhớ rằng chính nhờ tính công giáo này mà “mỗi thành phần đem những ân huệ riêng của mình đóng góp cho các thành phần khác và cho toàn thể Hội Thánh.”[20] Nhờ đó, Hội Thánh tăng trưởng vừa như toàn thể vừa trong từng cộng đoàn riêng lẻ, qua sự trao đổi hỗ tương và những nỗ lực chung hướng đến sự hiệp thông ngày càng viên mãn. Vì thế, Dân Thiên Chúa không chỉ được quy tụ từ nhiều dân tộc, nhưng còn được liên kết bởi nhiều chức năng, ơn gọi, nền văn hóa và truyền thống khác nhau; mỗi thành phần được mời gọi nâng đỡ và làm phong phú cho nhau. Theo viễn tượng này, thánh Phaolô VI nhìn nhận rằng, trước sự đa dạng lớn lao của các hoàn cảnh lịch sử, sẽ là không thực tế nếu nghĩ rằng Học thuyết Xã hội của Hội Thánh có thể đưa ra một giải pháp duy nhất phù hợp cho mọi bối cảnh.[21] Vì thế, ngài mời gọi mỗi cộng đoàn Kitô hữu đọc thực tại của đất nước mình với sự sáng suốt và trách nhiệm. Sự căng thẳng phong phú giữa tính phổ quát của sứ mạng Hội Thánh và cội rễ địa phương của Hội Thánh là một khía cạnh nội tại của đời sống Hội Thánh: Hội Thánh bao trùm toàn thế giới, nhưng đồng thời chạm tới những vấn đề cụ thể của từng bối cảnh như nơi chốn thực sự để Tin Mừng nhập thể.
  3. Dưới ánh sáng những điều đã nói, chúng ta có thể hiểu cách xác thực hơn Học thuyết Xã hội của Hội Thánh. Đây không phải là một cẩm nang các nguyên tắc và quy luật để áp dụng máy móc, nhưng là một tiến trình phân định chung. Nó phát sinh từ cuộc gặp gỡ giữa chân lý vĩnh cửu của Tin Mừng và những vấn nạn của lịch sử. Học thuyết ấy để cho mình được chất vấn bởi các dấu chỉ thời đại và được nuôi dưỡng bởi những đóng góp của khoa học, văn hóa và kinh nghiệm nhân loại. Vì thế, khi phẩm giá của anh chị em chúng ta bị xúc phạm, khi chính trị thất bại trong việc đối diện với các bi kịch của nhân loại, khi kinh tế quay lưng chống lại con người hay khi khoa học vượt quá giới hạn của mình,[22] thì Hội Thánh – cùng với các hệ phái Kitô giáo khác và những tín hữu thuộc các tôn giáo khác – phải cất lên tiếng nói của mình, không phải để thống trị nhưng để cổ võ sự hiệp thông. Được hiểu như thế, Học thuyết Xã hội trở thành một thần học về sự hiệp thông trong lịch sử, nơi Ngôi Lời nhập thể tiếp tục hiện diện qua đối thoại, ký ức và lời ngôn sứ.

Sự phát triển của Học thuyết Xã hội từ Đức Lêô XIII đến hôm nay

  1. Sau khi phác họa cách thức Hội Thánh hiện diện trong lịch sử và đối thoại với thế giới, giờ đây tôi muốn nhìn lại sự phát triển của Học thuyết Xã hội trong Huấn quyền, vốn đã đáp lại những biến chuyển xã hội lớn lao từ thế kỷ XIX cho tới hôm nay. Dĩ nhiên, tôi không thể trình bày đầy đủ tất cả sự phong phú của giáo huấn này, mà những nguyên tắc nền tảng đã được trình bày trong Toát yếu Học thuyết Xã hội của Hội Thánh và tiếp tục được đào sâu trong các giáo huấn gần đây. Tôi cũng không thể phân tích cách hệ thống tất cả những điều đã được khai triển trong các thông điệp của các vị tiền nhiệm đáng kính, đặc biệt là Laudato Si’Fratelli Tutti. Tuy nhiên, tôi muốn nhấn mạnh một vài điểm cốt yếu để cho thấy văn kiện hiện tại đứng trong sự liên tục với truyền thống ấy như thế nào. Đồng thời, tôi cũng muốn nhấn mạnh rằng trong truyền thống ấy, cốt lõi bất biến của các chân lý mặc khải liên quan đến con người và xã hội luôn đan xen với khả năng mới mẻ trong việc lắng nghe hoàn cảnh lịch sử và đáp lại các vấn đề đương đại. Giờ đây, tôi xin điểm qua một vài giai đoạn quan trọng trong tiến trình phát triển này, bắt đầu từ thời kỳ được khai mở bởi Thông điệp Rerum Novarum.

Những giai đoạn đầu tiên của Học thuyết Xã hội Hội Thánh

  1. Điều mà hôm nay chúng ta gọi là “Học thuyết Xã hội của Hội Thánh” không phải là sản phẩm tự phát của thời hiện đại. Trái lại, đó là hoa trái của việc tiếp nhận và hệ thống hóa một truyền thống suy tư lâu dài của Hội Thánh về đời sống xã hội, bén rễ trong Thánh Kinh, các Giáo phụ, cũng như những phát triển thần học và pháp lý thời Trung cổ và cận đại. Dù thuật ngữ “Học thuyết Xã hội của Hội Thánh” được Đức Piô XII sử dụng lần đầu vào năm 1950,[23] nội dung của nó đã bắt đầu hình thành như một tập hợp giáo huấn xã hội có hệ thống ngay từ Thông điệp Rerum Novarum của Đức Lêô XIII. Đối diện với những “điều mới mẻ” của thời đại mình – xung đột giữa tư bản và lao động, vấn đề công nhân, những biến chuyển kinh tế và xã hội – Đức Lêô XIII không chỉ ghi nhận tình trạng bất ổn, nhưng nhìn thấy nơi đó một lãnh vực cho sứ mạng mục vụ của Hội Thánh. Ngài thực hiện một sự phân định nghiêm túc, soi sáng nguyên nhân và những giải pháp khả thi dưới ánh sáng Tin Mừng và cái nhìn toàn diện về con người được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa. Thánh Gioan Phaolô II đã xem lối tiếp cận ấy như một “mô hình trường tồn”[24] của Học thuyết Xã hội: một thực hành mẫu mực, qua đó Hội Thánh – khi đối diện với các biến chuyển lịch sử – thi hành quyền và bổn phận của mình trong việc xem xét các thực tại xã hội, lên tiếng về chúng và chỉ ra những con đường hướng tới các giải pháp công bằng. Nhờ đó, những nội dung trường tồn của đức tin và sự khôn ngoan cổ truyền của Hội Thánh được diễn tả trong một giáo huấn sống động, trung thành với Tin Mừng nhưng vẫn phát triển để đáp lại những “điều mới mẻ” của mọi thời đại.
  2. Thông điệp Rerum Novarum của Đức Lêô XIII là một cột mốc trong sự phát triển giáo huấn xã hội của Hội Thánh. Văn kiện này đặt phẩm giá của lao động và người lao động ở trung tâm suy tư; khẳng định quyền được hưởng mức lương công bằng đủ nuôi sống bản thân và gia đình; nhìn nhận rằng con người có giá trị nền tảng vượt trên tư bản và lợi nhuận; bảo vệ quyền tư hữu cùng vai trò thiết yếu của nó trong xã hội; đề cao các hiệp hội công nhân; và đề xuất những hình thức hợp tác giữa các thành phần xã hội như một giải pháp thay thế cho não trạng đấu tranh giai cấp. Vì thế, không lạ gì khi Đức Piô XI gọi văn kiện này là “Đại Hiến Chương”[25] của hành động xã hội Kitô giáo. Trong Rerum Novarum, sự khôn ngoan cổ truyền của Hội Thánh về con người và đời sống xã hội đã mang lấy một hình thức mới có khả năng đáp lại thời đại công nghiệp và đặt nền cho hệ thống Học thuyết Xã hội sẽ tiếp tục phát triển trong các thập niên sau đó. Dù nhiều hoàn cảnh lịch sử được Đức Lêô XIII mô tả đã thay đổi, ít nhất hai trực giác của ngài vẫn còn nguyên giá trị hôm nay: thứ nhất là tính ưu tiên của lao động con người trên mọi não trạng chỉ chăm chú vào tài chính hay năng suất – cùng với sự quan tâm đặc biệt dành cho những con người và gia đình dễ bị khai thác nhất; thứ hai là mối liên hệ bất khả phân giữa việc loan báo Tin Mừng và việc xây dựng một trật tự xã hội công bằng hơn. Vì thế, Rerum Novarum tiếp tục nhắc nhớ chúng ta rằng không có việc loan báo Tin Mừng đích thực nào lại không chạm đến cả những cơ cấu của xã hội loài người.
  3. Thông điệp Quadragesimo Anno của Đức Piô XI được công bố năm 1931, nhân kỷ niệm bốn mươi năm Rerum Novarum, vào đúng thời điểm cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu nghiêm trọng đang diễn ra. Văn kiện này đánh dấu một bước phát triển mới trong giáo huấn xã hội của Hội Thánh. Không còn chỉ giới hạn ở “vấn đề lao động,” thông điệp mở rộng suy tư sang toàn bộ cơ cấu của trật tự kinh tế và chính trị. Thông điệp lên án việc tập trung quyền lực kinh tế vào tay một số ít người; phê phán cả cạnh tranh vô giới hạn lẫn các dự án tập thể chủ nghĩa làm tổn hại tự do và trách nhiệm cá nhân; mạnh mẽ khẳng định quyền của người lao động được liên kết; và nhắc lại rằng tiền lương phải tương xứng không chỉ với công việc đã làm nhưng còn với nhu cầu của người lao động và gia đình họ. Trong bối cảnh ấy, Đức Piô XI đã trình bày cách có hệ thống nguyên tắc bổ trợ (subsidiarity), vốn sẽ trở thành một trong những nền tảng của Học thuyết Xã hội. Theo nguyên tắc này, những gì cá nhân, gia đình, các tổ chức trung gian và cộng đồng địa phương có thể đảm nhận thì không nên bị cấp cao hơn tước lấy. Bên cạnh đó, trong nhiều văn kiện huấn quyền khác – từ các thông điệp Non Abbiamo BisognoMit Brennender Sorge cho đến Divini Redemptoris – Đức Piô XI đã nhắc lại vai trò xã hội của quyền tư hữu và lên án những hình thức toàn trị chà đạp phẩm giá con người, bóp nghẹt đời sống xã hội, tôn thờ Nhà nước quá mức và kỳ thị chủng tộc. Có ít nhất ba trực giác trong giáo huấn xã hội của ngài vẫn còn rất xác đáng hôm nay: nhận thức rằng bất công không chỉ hệ tại ở hành vi cá nhân mà còn nằm trong các cơ cấu kinh tế và thể chế; tầm quan trọng của nguyên tắc bổ trợ, vốn đòi hỏi phải củng cố mạng lưới các hiệp hội và cộng đồng thay vì tiếp tục tập trung quyền lực; và mối liên hệ giữa phẩm giá lao động, tiền lương công bằng với khả năng thật sự để gia đình sống một đời sống xứng hợp nhân phẩm.
  4. Trong bối cảnh bi thảm của Thế chiến thứ hai và những năm tái thiết sau đó, giáo huấn của Đức Piô XII đã đóng góp đáng kể vào sự phát triển của Học thuyết Xã hội. Điều này đặc biệt rõ nơi các sứ điệp Giáng Sinh phát thanh của ngài, trong đó Đức Giáo hoàng phác họa một trật tự quốc tế đặt nền trên công lý, hòa bình và việc nhìn nhận phẩm giá con người. Trong các sứ điệp ấy, ngài đề xuất một cuộc đối thoại với xã hội dựa trên luật tự nhiên, được hiểu như tập hợp những nguyên tắc khách quan vượt lên trên lợi ích của cá nhân và quốc gia, và phải điều chỉnh cả đời sống nội bộ của các dân tộc lẫn tương quan giữa họ với nhau. Đức Piô XII cũng trao một vai trò quyết định cho các hiệp hội nghề nghiệp, công đoàn và những tổ chức trung gian khác trong đời sống kinh tế – xã hội. Ngài xem các hình thức tổ chức này là bảo đảm thiết yếu cho sự quân bình dân sự và cho việc bảo vệ công ích. Ngài khẳng định sự cần thiết của một nhà nước pháp quyền lành mạnh để ngăn chặn lạm dụng quyền lực, đồng thời nhìn nhận nền dân chủ như phương thế bảo đảm việc thi hành quyền bính cách chính đáng. Tuy nhiên, ngài cũng cảnh báo chống lại mọi cố gắng đặt nền luật pháp trên lợi ích hay sức mạnh, nhắc rằng một trật tự quốc tế vận hành theo ưu thế của kẻ mạnh sẽ khiến các dân tộc yếu hơn bị áp bức và làm xói mòn tận gốc sự tín nhiệm giữa các quốc gia. Sau cùng, Đức Piô XII nhận ra những mất cân bằng kinh tế sâu sắc giữa các nước như một trong những nguyên nhân làm bùng nổ xung đột.[26] Ba định hướng trong giáo huấn của ngài vẫn đặc biệt ý nghĩa cho thời đại chúng ta, đang bị đánh dấu bởi những hình thức quyền lực toàn cầu mới và các bất bình đẳng ngày càng gia tăng: sự cần thiết để luật pháp vượt lên trên lợi ích; nhận thức rằng chênh lệch kinh tế là mảnh đất nuôi dưỡng căng thẳng và bạo lực; và nhu cầu về một mạng lưới các tổ chức trung gian có khả năng kết nối cá nhân với Nhà nước. Những định hướng này tiếp tục cung cấp các tiêu chuẩn quan trọng giúp Học thuyết Xã hội giải thích các động lực của toàn cầu hóa và cổ võ một trật tự quốc tế công bằng, hòa bình hơn.

Những năm của Công đồng Vaticanô II

  1. Một giai đoạn mới trong giáo huấn xã hội của Hội Thánh bắt đầu với thánh Gioan XXIII, vị giáo hoàng đặt nhấn mạnh hơn vào chiều kích toàn cầu của các vấn đề xã hội và ngôn ngữ về quyền con người. Trong Mater et Magistra, ngài trình bày đức tin Kitô giáo như ánh sáng có khả năng nối kết trời với đất. Ngài nhắc rằng, dù sứ mạng chính yếu của Hội Thánh là thánh hóa và loan báo các thực tại vĩnh cửu, Hội Thánh vẫn không bỏ quên những nhu cầu cụ thể của đời sống thường nhật và quan tâm đến mọi thiện ích đích thực của con người.[27] Dựa trên cái nhìn thống nhất ấy về con người, Đức Gioan XXIII nhấn mạnh rằng đời sống xã hội đòi hỏi một sự quân bình giữa sáng kiến của công dân và các tổ chức – những người được mời gọi tự tổ chức và cộng tác với nhau – với hành động của Nhà nước, vốn phải điều phối và nâng đỡ mà không bóp nghẹt tự do và trách nhiệm của con người. Vì thế, ngài nhấn mạnh đến việc trả lương công bằng, sự tham gia của người lao động và khoảng cách ngày càng gia tăng giữa các quốc gia. Vài năm sau, trong Pacem in Terris, Đức Gioan XXIII lần đầu tiên không chỉ ngỏ lời với các tín hữu nhưng còn với “mọi người thiện chí,” nối kết cách hệ thống phẩm giá con người với việc nhìn nhận các quyền và bổn phận căn bản, đồng thời đề xuất một định hướng cho xã hội – kể cả ở cấp quốc tế – dựa trên chân lý, công lý, tình yêu và tự do.[28] Trong thế giới hôm nay, đang bị đánh dấu bởi xung đột lan rộng và những hình thức lệ thuộc toàn cầu mới, những điểm sau trong tư tưởng của ngài vẫn đặc biệt quan trọng: cái nhìn mang tính phổ quát; việc quy chiếu tới nhân quyền như một khuôn khổ chung; và niềm xác tín rằng hòa bình bền vững đòi hỏi những thể chế và tương quan giữa các dân tộc được xây dựng trên phẩm giá của mỗi con người.
  2. Công đồng Vaticanô II đánh dấu một bước ngoặt trong cách Hội Thánh hiểu chính mình giữa thế giới hiện đại. Trong Hiến chế mục vụ Gaudium et Spes, Công đồng trình bày hình ảnh một Hội Thánh gần gũi với nhân loại, dấn thân vào thế giới và quyết tâm suy tư trên những hoàn cảnh lịch sử cụ thể thay vì những khái niệm trừu tượng. Văn kiện đề cập đến những vấn đề lớn như hôn nhân và gia đình, đời sống kinh tế và xã hội, cộng đồng chính trị, chiến tranh và hòa bình. Công đồng nhấn mạnh rằng các cơ cấu kinh tế và thể chế chỉ công bằng khi chúng phục vụ sự phát triển toàn diện của con người và thúc đẩy sự tham gia có trách nhiệm của mọi người.[29] Tầm quan trọng của văn kiện này đối với Học thuyết Xã hội không chỉ nằm ở việc mở ra những chân trời mới cho suy tư, nhưng còn ở phương pháp phân định: mời gọi giải thích các biến đổi lịch sử dưới ánh sáng Tin Mừng và chuyên môn nhân loại. Phương pháp ấy cho thấy đối thoại với thế giới không phải là một chiến lược nhất thời của Hội Thánh, nhưng là diễn tả cụ thể sứ mạng của Hội Thánh, bởi Tin Mừng, như men trong bột, có khả năng biến đổi các cơ cấu xã hội từ bên trong và mở ra những con đường dẫn tới nhân tính đích thực hơn. Trong cùng bối cảnh ấy, có thể kể thêm Tuyên ngôn Dignitatis Humanae, trong đó Công đồng nhìn nhận tự do tôn giáo như một quyền căn bản đặt nền trên phẩm giá con người và phải được pháp luật bảo vệ, để không ai bị ép buộc hành động trái lương tâm hoặc bị cản trở trong việc tìm kiếm và tuyên xưng chân lý, cả nơi riêng tư lẫn công khai.[30] Nguyên tắc này hôm nay vẫn hết sức thiết thực và tiếp tục cung cấp cho Học thuyết Xã hội những tiêu chuẩn quyết định để bảo vệ con người cũng như xây dựng các xã hội đa nguyên và hòa bình.
  3. Trong triều đại của thánh Phaolô VI, một quan niệm mới về hòa bình đã xuất hiện: hòa bình không còn chỉ được hiểu như sự vắng bóng chiến tranh, nhưng được hình thành trong viễn tượng phát triển toàn diện con người. Trong Populorum Progressio, ngài mô tả sự phát triển như cuộc chuyển mình từ những điều kiện sống kém nhân bản sang những điều kiện sống nhân bản hơn. Hơn nữa, ngài hiểu sự phát triển ấy như một tiến trình liên hệ đến “mỗi người và toàn thể con người,”[31] nghĩa là bao gồm mọi chiều kích của con người và tất cả mọi người không trừ ai. Vì thế, Đức Phaolô VI có thể khẳng định rằng sự phát triển được hiểu như vậy thật sự là “tên gọi mới của hòa bình,”[32] bởi nó nhắm loại bỏ tận gốc những nguyên nhân của bất công và xung đột, đồng thời tạo điều kiện cho một đời sống xứng hợp nhân phẩm dành cho tất cả mọi người. Việc thành lập Ủy ban Giáo hoàng Iustitia et Pax cũng cần được hiểu dưới ánh sáng này như một nỗ lực nhằm đem lại hình thức bền vững cho trực giác ấy ở cấp Giáo hội và quốc tế, trong khi ý thức về khoảng cách ngày càng lớn giữa các nước giàu và nghèo cùng nhu cầu cần có những chính sách thực sự cổ võ điều kiện sống nhân bản hơn cho mọi dân tộc.
  4. Trong Octogesima Adveniens, được viết nhân dịp kỷ niệm tám mươi năm Rerum Novarum, Đức Phaolô VI áp dụng viễn tượng ấy vào xã hội hậu công nghiệp, bị đánh dấu bởi đô thị hóa, những hình thức nghèo đói mới và những thay đổi văn hóa mau lẹ đặt vấn đề về tương lai của cá nhân cũng như cộng đồng. Đức Phaolô VI tin rằng, dù Tin Mừng được công bố, viết ra và sống trong một bối cảnh lịch sử – văn hóa rất khác với thời đại chúng ta, sứ điệp của Tin Mừng không hề “lỗi thời.”[33] Trái lại, Tin Mừng vẫn cung cấp một cái nhìn về con người, các tương quan, quyền bính và công ích có khả năng hướng dẫn các chọn lựa kinh tế, chính trị và văn hóa hôm nay. Nói cách khác, Tin Mừng vẫn luôn phù hợp vì cung cấp những tiêu chuẩn để nhận ra điều gì nhân hóa hay phi nhân hóa, điều gì giải phóng hay áp bức trong các hoàn cảnh luôn thay đổi. Đối với Học thuyết Xã hội của Hội Thánh, di sản đầy đòi hỏi nhất của Đức Phaolô VI chính là điều này: bao lâu trên thế giới còn có những con người bị loại trừ khỏi sự phát triển xứng hợp với phẩm giá nhân loại, thì cộng đồng Kitô hữu không thể hài lòng với một lời loan báo hòa bình chỉ mang tính lý thuyết. Nhưng khởi đi từ những nơi con người bị gạt ra bên lề, cộng đồng ấy phải để cho Tin Mừng phán xét những cơ cấu kinh tế và chính trị vốn – như thánh Gioan Phaolô II sau này nhắc lại – có thể trở thành những “cơ cấu tội lỗi.”[34] Nhờ đó, sẽ không còn cá nhân hay dân tộc nào bị xem là có thể hy sinh trong các tiến trình phát triển.

Huấn quyền gần đây

  1. Giáo huấn xã hội phong phú của thánh Gioan Phaolô II xuất hiện giữa cuộc khủng hoảng của các hệ tư tưởng lớn trong thế kỷ XX và sự khởi đầu của toàn cầu hóa kinh tế. Thông điệp Laborem Exercens, được công bố nhân dịp chín mươi năm Rerum Novarum, đã mở ra một hướng suy tư mới về lao động. Văn kiện xem tiền lương công bằng là tiêu chuẩn cụ thể để kiểm chứng tính chính đáng của toàn bộ hệ thống kinh tế – xã hội, bởi nó cho thấy người lao động được đối xử như một nhân vị hay chỉ như một chi phí sản xuất.[35] Lao động không còn bị xem đơn thuần như một vấn đề cần giải quyết hay phương tiện tạo thu nhập, nhưng như một thiện ích nền tảng cho con người, nguyên lý của hoạt động kinh tế và chìa khóa của toàn bộ vấn đề xã hội. Qua lao động, con người thực thi tự do, óc sáng tạo và khả năng cộng tác của mình, đồng thời góp phần nâng cao đời sống văn hóa và luân lý của xã hội.[36] Dưới ánh sáng ấy, những hình thức bấp bênh nghề nghiệp, những con đường nghề nghiệp bị phân mảnh và tiến trình tự động hóa không thể chỉ được đánh giá theo hiệu quả, nhưng phải dựa trên phẩm giá của người lao động, quyền được hưởng mức lương xứng đáng và khả năng thực sự tham gia vào đời sống xã hội.
  2. Với thông điệp Sollicitudo Rei Socialis, nhân dịp hai mươi năm Populorum Progressio, thánh Gioan Phaolô II nhìn lại thảm trạng của tình trạng chậm phát triển. Ngài nhìn nhận sự thất bại của nhiều nỗ lực nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế cho các dân tộc nghèo và giúp họ công nghiệp hóa, đồng thời ghi nhận khoảng cách dai dẳng, thậm chí ngày càng lớn, giữa Bắc và Nam thế giới.[37] Ngài cũng lên án những cơ chế kinh tế, tài chính và thương mại mà, dưới sự điều hành của các nền kinh tế mạnh nhất, đã cơ cấu hóa việc bảo vệ quyền lợi riêng của họ trong khi bóp nghẹt các nền kinh tế yếu hơn; và ngài yêu cầu những cơ chế ấy phải được đặt dưới sự phán xét nghiêm túc về mặt luân lý chứ không chỉ thuần túy kỹ thuật.[38] Trong bối cảnh đó, liên đới được hiểu như trách nhiệm cụ thể và chung của các cá nhân, dân tộc và quốc gia – một hình thức tình bạn xã hội hay bác ái chính trị hướng đến “nền văn minh tình thương” mà Đức Phaolô VI từng đề nghị.[39]
  3. Nhân kỷ niệm một trăm năm Rerum Novarum, thông điệp Centesimus Annus đưa ra suy tư về sự sụp đổ của hệ thống Xô Viết và sự trỗi dậy của nền dân chủ cùng kinh tế thị trường. Thánh Gioan Phaolô II nhắc lại giáo huấn của Đức Piô XII rằng Hội Thánh đánh giá cao nền dân chủ khi nó bảo đảm sự tham gia thực sự của người dân, cho phép họ bầu chọn và thay đổi các nhà lãnh đạo cách hòa bình, đồng thời ngăn chặn việc quyền lực bị độc quyền bởi những nhóm thiểu số theo đuổi lợi ích riêng hay ý thức hệ.[40] Tương tự, Hội Thánh nhìn nhận tiềm năng tích cực của thị trường và sáng kiến tư nhân chỉ khi chúng vẫn lệ thuộc luật luân lý và được hướng dẫn bởi nguyên tắc liên đới, không hy sinh những người yếu thế cho logic lợi nhuận.[41] Đây là một di sản đặc biệt quan trọng mà Học thuyết Xã hội để lại: việc khẳng định mối liên hệ giữa phẩm giá lao động, sự liên đới giữa các dân tộc, và sự đánh giá có phê phán đối với dân chủ cũng như kinh tế thị trường tiếp tục cung cấp các tiêu chuẩn để phân định những hình thức khai thác, loại trừ và khủng hoảng đại diện chính trị mới hôm nay.
  4. Trong thông điệp xã hội Caritas in Veritate, Đức Bênêđictô XVI muốn tái thẩm định và mở rộng khái niệm phát triển được trình bày trong Populorum Progressio, bằng cách giải thích nó dưới ánh sáng của toàn cầu hóa. Ngài lưu ý rằng sự phát triển ấy phải trở thành “một sự tăng trưởng đích thực, mang lại lợi ích cho mọi người và thực sự bền vững.”[42] Nghĩa là một tiến bộ kinh tế vừa bao trùm mọi người vừa tôn trọng những giới hạn của công trình tạo dựng. Tuy nhiên, ngài cũng nhấn mạnh rằng trong các quốc gia giàu có đang xuất hiện những hình thức nghèo đói mới và những kiểu loại trừ chưa từng có, trong khi ở các vùng nghèo, một số ít người sống trong sự dư thừa tiêu thụ bên cạnh những hoàn cảnh nghèo đói phi nhân hóa.[43] Hơn nữa, ngài nhận thấy hệ thống kinh tế và tài chính toàn cầu mới, với sự dịch chuyển lớn lao của vốn và phương tiện sản xuất, đã làm suy giảm quyền lực chính trị của các quốc gia và khả năng ảnh hưởng của họ trên các tiến trình kinh tế.[44] Vì thế, Đức Bênêđictô XVI nhắc lại rằng hoạt động kinh tế không thể tự cho mình giải quyết các vấn đề xã hội chỉ bằng việc mở rộng não trạng thương mại, nhưng phải được quy hướng về công ích, điều mà cộng đồng chính trị giữ một trách nhiệm không thể thay thế.[45]
  5. Đức Bênêđictô XVI đặt bác ái ở trung tâm suy tư của mình, khẳng định rằng bác ái “là cốt lõi của Học thuyết Xã hội Hội Thánh,”[46] với điều kiện bác ái ấy luôn gắn liền với chân lý. Ngài cũng bày tỏ mối lo ngại trước xu hướng loại bỏ chiều kích luân lý ngay trong các lãnh vực xã hội, pháp lý, chính trị và kinh tế. Điểm độc đáo trong đóng góp của ngài là cho thấy rằng phát triển, công lý, các thể chế và thị trường không phải là những thực tại trung tính, nhưng là những không gian nơi bác ái trong chân lý phải được diễn tả cụ thể trong lịch sử. Giáo huấn này đặc biệt thích hợp cho thời đại hôm nay, giữa lúc bất bình đẳng ngày càng gia tăng, áp lực của thị trường tài chính, khủng hoảng môi trường và sự mất lòng tin vào chính trị. Đây là lời mời gọi đánh giá mọi mô hình phát triển dựa trên khả năng bao gồm mọi người và tính bền vững của chúng; tái lập mối tương quan giữa kinh tế và chính trị trên nền tảng công ích; đồng thời nhìn nhận vai trò phê phán và khai mở của đức bác ái trong đời sống công cộng.
  6. Giáo huấn xã hội của Đức Giáo hoàng Phanxicô phát triển theo đường hướng của Gaudium et Spes, vốn mời gọi chúng ta nhìn lịch sử qua lăng kính những hy vọng và mong manh của con người, rồi đưa chúng vào cuộc đối thoại với Tin Mừng. Cách tiếp cận này xuất hiện đặc biệt rõ trong Evangelii Gaudium, nơi ngài khẳng định rằng việc loan báo Kitô giáo tự bản chất mang chiều kích xã hội và mời gọi một Hội Thánh biết lắng nghe tiếng kêu của người nghèo, người di dân và các nạn nhân của những hình thức nô lệ mới. Sự nhấn mạnh của Đức Phanxicô về một Hội Thánh hiệp hành, một Hội Thánh “cùng bước đi,” biết đọc các dấu chỉ thời đại dưới ánh sáng Tin Mừng và để cho mình được loan báo Tin Mừng bởi chính người nghèo – những người mà Hội Thánh cùng chia sẻ lịch sử – cũng nằm trong cùng viễn tượng ấy.[47]
  7. Trong Laudato Si’, Đức Phanxicô đã trình bày cách có hệ thống đầu tiên về cuộc khủng hoảng môi trường trong một thông điệp xã hội, cho thấy đây không phải là một vấn đề tách biệt, nhưng là chiều kích sinh thái của cuộc khủng hoảng kinh tế – xã hội đương đại. Đề nghị của ngài về một “sinh thái học toàn diện” kết hợp việc chăm sóc ngôi nhà chung với sự ưu tiên dành cho người nghèo, đồng thời mạnh mẽ khẳng định rằng “tiếng kêu của trái đất và tiếng kêu của người nghèo”[48] không thể tách rời nhau. Trong ánh sáng ấy, nguyên tắc đích đến phổ quát của của cải được đặt ở vị trí trung tâm, cùng với việc phê phán mô hình kỹ trị muốn giản lược mọi sự thành đối tượng để thống trị; việc bảo vệ lao động con người đang bị đe dọa bởi nền văn hóa loại bỏ; và nhu cầu về công bằng giữa các thế hệ. Sau cùng, ngài cổ võ một cuộc đối thoại chân thành giữa lãnh vực chính trị và tài chính, để không bên nào tự khép kín trong chính mình.
  8. Đối diện với sự tan rã của các mối dây xã hội, một “cuộc thế chiến từng phần,” chủ nghĩa toàn cầu hóa cá nhân chủ nghĩa và tác động của đại dịch trên tình hiệp thông cộng đồng, Đức Phanxicô trong Fratelli Tutti đã tìm cách khơi lại giấc mơ về một nhân loại biết chọn tình bằng hữu xã hội và tình huynh đệ phổ quát. Ngài đề xuất một nền văn hóa gặp gỡ, một “nền chính trị tốt đẹp hơn” biết tìm kiếm công ích, những con đường hòa giải và một thế giới bảo đảm “đất đai, nhà ở và công việc cho mọi người.”[49] Sau cùng, trong Dilexit Nos, ngài cho thấy rằng những dấn thân xã hội lớn lao ấy không thể tách rời khỏi mối tương quan cá vị với Đức Kitô. Quay về với Lời Chúa, ngài nhắc rằng câu trả lời chân thật nhất cho tình yêu của Trái Tim Chúa Giêsu chính là tình yêu cụ thể dành cho anh chị em mình, và khẳng định rằng “không có cách nào lớn lao hơn để đáp lại tình yêu bằng tình yêu.”[50]

Giải thích lịch sử dưới ánh sáng đức tin

  1. Khi nhìn lại hành trình lịch sử này, chúng ta thấy rõ rằng Học thuyết Xã hội của Hội Thánh không phải là kết quả của một dự án được hình thành nơi bàn giấy, nhưng là thành quả của một tiến trình kiên nhẫn, trong đó mỗi vị giáo hoàng – cùng với Công đồng Vaticanô II – đã đóng góp nét riêng của mình trước những “điều mới mẻ” của từng thời đại. Đáp lại các thách đố của thời mình, mỗi vị đã giải thích những biến chuyển lịch sử dưới ánh sáng Tin Mừng, làm nổi bật những khía cạnh khác nhau của cùng một gia sản: phẩm giá con người, giá trị của lao động, đích đến phổ quát của của cải, tình liên đới và nguyên tắc bổ trợ, việc chăm sóc công trình tạo dựng, cũng như vị trí trung tâm của hòa bình và tình huynh đệ. Kết quả là một sự phát triển hài hòa – dù không phải lúc nào cũng tuyến tính – được đánh dấu bởi những nhấn mạnh khác nhau, những trực giác ngày càng sâu sắc hơn và đôi khi cả những thay đổi trong cách tiếp cận, nhưng không phá vỡ truyền thống trước đó mà giúp những hệ quả của truyền thống ấy được trưởng thành. Nếu hôm nay chúng ta có thể nói đến một tập hợp chung gồm những nguyên tắc và tiêu chuẩn, thì đó là bởi sự giải thích lịch sử trong đức tin này chưa bao giờ bị gián đoạn, nhưng luôn rộng mở trước những thách đố mà mỗi thế hệ đặt ra. Chính những nguyên tắc lớn của Học thuyết Xã hội – vốn hướng dẫn việc phân định của các tín hữu trong đời sống cá nhân và công cộng – là điều giờ đây tôi muốn hướng sự chú ý của chúng ta tới, để có thể hiểu sâu hơn sự nhất quán nội tại cũng như khả năng soi sáng thời đại hôm nay của chúng.

CHƯƠNG HAI

NỀN TẢNG VÀ CÁC NGUYÊN TẮC

NƠI HỌC THUYẾT XÃ HỘI CỦA HỘI THÁNH

  1. Học thuyết Xã hội của Hội Thánh là một thực tại sống động, luôn đối thoại với lịch sử, văn hóa và khoa học. Đồng thời, nó cũng gìn giữ một cốt lõi gồm những chân lý bất biến. Vì thế, học thuyết này có thể được xem như một hình thức khôn ngoan có khả năng hướng dẫn đời sống cá nhân và xã hội của các tín hữu ngay trong thời đại hôm nay. Trong chương thứ hai này, tôi muốn tập trung vào một vài nền tảng và nguyên tắc của Học thuyết Xã hội, những yếu tố sẽ giúp chúng ta giải thích “những điều mới mẻ” của thời đại, đặc biệt trong ánh sáng của phẩm giá vốn có nơi con người. Để bảo vệ con người trong thời đại trí tuệ nhân tạo, tôi nghĩ rằng hôm nay chúng ta cần một lần nữa suy tư về công ích, đích đến phổ quát của của cải, nguyên tắc bổ trợ, tình liên đới và công bằng xã hội. Tôi xác tín rằng một tương quan hài hòa giữa các nguyên tắc này đòi hỏi chúng phải được xem xét trong toàn thể của chúng, để thấy rõ chúng liên kết và bổ túc cho nhau như thế nào.
  2. Khi đưa ra những suy tư này, trước hết tôi hy vọng giúp các giáo dân và mọi người thiện chí tái khám phá bổn phận của mình trong việc thực thi các nguyên tắc nói trên vào đời sống hằng ngày, trong tương quan gia đình, công việc và sự dấn thân xã hội. Nhờ đó, họ sẽ để cho mình được thúc đẩy bởi khát vọng làm cho tình yêu Thiên Chúa trở nên hữu hình trong những biến cố cụ thể của cuộc sống. Đồng thời, tôi cũng muốn khuyến khích các học viện và đại học mang lại sức sống mới cho các nguyên tắc ấy và áp dụng chúng cách thích đáng, hiệu quả trước cuộc cách mạng kỹ thuật số. Nhờ vậy, các nghiên cứu thần học và triết học sẽ có thể tiếp tục đào sâu và nâng đỡ hành trình mục vụ của Hội Thánh, đồng thời góp phần vào nhiệm vụ của Huấn quyền trong việc soi sáng lương tâm các tín hữu và hướng dẫn những nỗ lực nhằm làm cho đời sống xã hội trở nên công bằng và huynh đệ hơn.

Những nền tảng của Học thuyết Xã hội

Con người: hình ảnh của Thiên Chúa Ba Ngôi

  1. Học thuyết Xã hội của Hội Thánh đưa chúng ta vào chính trung tâm đức tin của mình: mầu nhiệm Thiên Chúa hằng sống, được mặc khải nơi Đức Giêsu Kitô, Đấng – như sự hiệp thông của Ba Ngôi Vị: Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần – chính là Tình Yêu trong tương quan, được biểu lộ qua sự tự hiến và chia sẻ với thế giới.[51] Như Công đồng đã nhắc nhớ, con người được mời gọi hiệp thông với Thiên Chúa và “chỉ có thể thực sự tìm thấy chính mình qua sự trao hiến chân thành.”[52] Thật vậy, ơn gọi sâu xa nhất của con người là bước vào chính động lực tình yêu Ba Ngôi: tình yêu được lãnh nhận và được trao ban.
  2. Nếu mầu nhiệm Thiên Chúa là Tình Yêu chính là nguồn mạch của Học thuyết Xã hội, thì sự diễn tả cụ thể nhất của mầu nhiệm ấy chính là dung nhan Đức Giêsu Kitô, Ngôi Lời nhập thể. Khi trở thành con người, Con Thiên Chúa bước vào lịch sử chúng ta và mang lấy xác phàm nhân loại, đem theo tình yêu liên kết Người với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần. Nơi Người, “mầu nhiệm con người thật sự được sáng tỏ,”[53] bởi nhân tính của Người hoàn toàn tự do, mở ra với tha nhân, có khả năng xây dựng những tương quan lành mạnh và tốt đẹp, đồng thời dấn thân hiến trao trọn vẹn chính mình. Những ai tin vào Người được tham dự vào công trình canh tân vĩ đại khởi đi từ mầu nhiệm thương khó, tử nạn và phục sinh của Người, đồng thời cộng tác xây dựng Nước Thiên Chúa bằng cách học biết đón nhận mọi người như anh chị em, con cùng một Cha. Nhờ đó, cả việc loan báo Tin Mừng lẫn đời sống Kitô hữu – được hướng dẫn bởi hoạt động của Chúa Thánh Thần – đều mang đến những hệ quả xã hội cụ thể trong thế giới.[54]
  3. Ở trung tâm của cái nhìn Kitô giáo về con người là khẳng định vĩ đại của Kinh Thánh rằng con người được dựng nên theo hình ảnh và họa ảnh Thiên Chúa Ba Ngôi (x. St 1,26-27). Được tạo dựng cho tương quan, mỗi người đều được Thiên Chúa dự định và mong muốn bước vào sự hiệp thông với Người, với tha nhân và với công trình tạo dựng. Phẩm giá con người không tùy thuộc vào khả năng, của cải hay địa vị xã hội, cũng không lệ thuộc vào những chọn lựa đúng sai mà họ đã thực hiện; trái lại, phẩm giá ấy là một hồng ân đi trước và vượt lên trên mỗi cá nhân, được Thiên Chúa ban như diễn tả tình yêu không bao giờ thay đổi của Người. Vì thế, con người luôn luôn là “con đường của Hội Thánh”[55] và là trung tâm của mọi hành trình phát triển nhân bản toàn diện đích thực.[56]

Phẩm giá bình đẳng của mọi con người

  1. Thánh Gioan Phaolô II đã khẳng định rằng: “Sự ý thức ngày càng sâu sắc về phẩm giá con người và tính độc nhất của mỗi cá vị, cũng như sự tôn trọng phải có đối với hành trình lương tâm của họ, chắc chắn là một trong những thành quả tích cực của nền văn hóa hiện đại.”[57] Khẳng định này tiếp nối đường hướng mà Công đồng Vaticanô II đã mở ra khi ghi nhận sự gia tăng trong việc nhìn nhận phẩm giá cao cả của mọi người, sự vượt trội của con người trên các thực tại vật chất, cũng như những quyền và bổn phận phổ quát, bất khả xâm phạm của họ.[58] Điều quan trọng là phải bảo đảm rằng sự phát triển trong nhận thức về phẩm giá con người không bị che mờ bởi áp lực của những ý thức hệ mới hay những quyền lợi quá mạnh mẽ trong thế giới hôm nay. Trong số các ý thức hệ ấy, tôi đặc biệt xem là nguy hiểm thứ quan niệm cho rằng mỗi người phải “kiếm lấy” hoặc “chứng minh” giá trị của mình, đến mức gán cho những người hiệu quả và thành công hơn một giá trị lớn hơn. Theo cách nhìn ấy, con người bị giản lược thành phương tiện để đạt kết quả, thành nguồn lực để sử dụng và khai thác, thay vì được nhìn nhận như một cùng đích tự thân, không bao giờ được phép bị công cụ hóa. Tuy nhiên, giá trị của con người không lệ thuộc vào những gì họ đạt được hay sản xuất được. Có những quyền thuộc về mỗi người chỉ vì họ là con người, và không một quyền lực nhân loại nào có thể chính đáng phủ nhận hay tùy tiện giới hạn các quyền ấy.[59]
  2. Khi nói đến phẩm giá, chúng ta không phải lúc nào cũng dùng từ ấy theo cùng một nghĩa. Đôi khi, chúng ta nói đến phẩm giá luân lý, tức cách một người định hướng các chọn lựa và hành động của mình. Khi khác, chúng ta nghĩ đến phẩm giá xã hội, liên quan đến điều kiện sống và sự tôn trọng cụ thể mà xã hội dành cho một người. Cũng có lúc chúng ta đề cập đến phẩm giá hiện sinh, nghĩa là cách một người cảm nhận giá trị của bản thân và ý nghĩa cuộc sống. Những khía cạnh này của phẩm giá có thể được gia tăng hoặc bị suy giảm. Tuy nhiên, vượt trên tất cả là một cấp độ sâu xa và quan trọng hơn: phẩm giá hữu thể học. Đây là phẩm giá thuộc về mỗi con người chỉ vì họ hiện hữu, vì họ được Thiên Chúa muốn có, tạo dựng và yêu thương.[60] Không một tội lỗi, thất bại, sự sỉ nhục hay loại trừ nào có thể làm suy giảm giá trị sâu thẳm của một sự sống mà Thiên Chúa đã muốn và gọi vào hiện hữu.[61]
  3. Vì thế, phẩm giá nền tảng của mỗi con người không phải là điều giành lấy hay nhận được, cũng không cần phải được biện minh. Phẩm giá ấy đơn giản là một hồng ân. Tuyên ngôn Dignitas Infinita gần đây đã tóm lược tư tưởng của Hội Thánh về vấn đề này như sau: “Mỗi con người sở hữu một phẩm giá vô hạn, được đặt nền cách bất khả nhượng trong chính hữu thể của mình, phẩm giá ấy tồn tại trong và vượt trên mọi hoàn cảnh, tình trạng hay hoàn cảnh mà người ấy có thể gặp phải.”[62] Nói cách khác, phẩm giá ấy luôn luôn hiện hữu và không có ngoại lệ. Phẩm giá của mỗi con người có thể được gọi là “vô hạn,” như thánh Gioan Phaolô II từng nói,[63] vì hai lý do: trước hết, bởi tình yêu của Thiên Chúa – Đấng gọi chúng ta vào tình bạn với Người – là vô hạn; và secondly, vì tình yêu ấy hoàn toàn vô điều kiện, đến mức dù chúng ta tìm kiếm mãi, chúng ta cũng sẽ không bao giờ tìm thấy điều gì có thể xóa bỏ hay phủ nhận nó.

Giá trị tối thượng của nhân quyền

  1. Hội Thánh với lòng biết ơn nhìn nhận rằng “phong trào nhằm nhận diện và công bố các quyền con người là một trong những nỗ lực quan trọng nhất nhằm đáp lại cách hữu hiệu những đòi hỏi không thể né tránh của phẩm giá con người.”[64] Về điểm này, thánh Gioan Phaolô II khẳng định rằng Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền, được Liên Hiệp Quốc công bố ngày 10 tháng 12 năm 1948, vẫn là một trong những biểu hiện cao quý nhất của lương tâm nhân loại thời đại chúng ta.[65] Đó là “một cột mốc trên con đường dài và khó khăn của nhân loại.”[66] Vì thế, dưới cái nhìn Kitô giáo, nhân quyền không phải là điều gì thêm vào từ bên ngoài con người, nhưng là diễn tả của phẩm giá nội tại nơi con người, mà cộng đồng quốc tế có trách nhiệm bảo vệ và thăng tiến.
  2. Nhân quyền là bất khả xâm phạm, bởi chúng “gắn liền với chính con người và phẩm giá nhân vị.”[67] Vì thế, các quyền ấy mang tính phổ quát và không thể chuyển nhượng.[68] Chính vì chúng được đặt nền trên phẩm giá chung của mọi người nam nữ, nên chúng kéo theo những hệ quả thực tiễn và pháp lý cụ thể, bởi “sẽ là vô ích nếu công bố nhân quyền mà đồng thời không làm tất cả để bảo đảm bổn phận tôn trọng chúng, bởi mọi người, ở mọi nơi và cho tất cả mọi người.”[69] Trong các quyền ấy, quyền đầu tiên là quyền sống, từ lúc thụ thai cho đến khi chết tự nhiên,[70] bởi nếu không có quyền này thì mọi quyền khác đều không thể thực thi. Khi quyền nền tảng ấy bị phủ nhận – như trong trường hợp phá thai, giết người vô tội hay an tử – chúng ta đang đứng trước những chọn lựa mà Hội Thánh xem là sai trái nghiêm trọng.[71]
  3. Khi nhìn vào thời đại chúng ta, chúng ta không thể không nhận ra rằng việc bảo vệ nhân quyền đang phải đối diện với hai nguy cơ đặc biệt nghiêm trọng. Nguy cơ thứ nhất là các quyền ấy chỉ được tuyên bố trên bình diện hình thức, trong khi tiến bộ công nghệ vẫn tiếp tục song hành với những vi phạm phẩm giá con người, dù công khai hay tinh vi kín đáo. Nguy cơ thứ hai – và thật ra là cội rễ của nguy cơ thứ nhất – chính là việc không còn khả năng nhận ra nền tảng của tính phổ quát nơi các quyền ấy, vì con người đã từ bỏ “việc tìm kiếm những nền tảng vững chắc nâng đỡ các quyết định và luật pháp của mình.”[72] Đức Giáo hoàng Phanxicô đã kêu gọi chúng ta đừng đánh giá thấp vấn đề này. Ngài chỉ ra rằng khi lý trí nghiêm túc khảo sát bản tính con người, nó có khả năng khám phá ra những giá trị áp dụng cho tất cả mọi người, vì các giá trị ấy phát xuất từ chính bản tính nhân loại. Nếu nhiệm vụ tìm kiếm ấy bị từ bỏ, thì rất có thể những quyền hôm nay được xem là bất khả xâm phạm trong tương lai sẽ bị chất vấn hay phủ nhận bởi những người cầm quyền, có lẽ sau khi họ đã giành được một thứ đồng thuận bề ngoài từ những quần chúng bị sợ hãi hay thao túng.[73]
  4. Cùng với việc ý thức sâu xa hơn về giá trị và quyền lợi của mỗi con người, sự nhìn nhận các quyền của các nhóm thiểu số cũng đã phát triển. Tuy nhiên, vẫn còn một chặng đường dài phải đi để bảo đảm rằng quyền của rất nhiều người – đặc biệt là phụ nữ – được thực sự và bình đẳng tôn trọng trên toàn thế giới. Thực tế cho thấy “những người nghèo gấp bội chính là những phụ nữ phải chịu cảnh loại trừ, ngược đãi và bạo lực, vì họ thường ít có khả năng tự bảo vệ quyền lợi của mình hơn.”[74] Vì thế, chỉ tuyên bố rằng nam và nữ có phẩm giá và quyền lợi ngang nhau thì chưa đủ; điều cần thiết là sự bình đẳng ấy phải được phản ánh trong những quyết định cụ thể như luật pháp, cơ hội việc làm, giáo dục, trách nhiệm xã hội và chính trị, cũng như trong cách xã hội lắng nghe và trân trọng những đóng góp của phụ nữ. Bao lâu khoảng cách ấy còn tồn tại, chúng ta chưa thể nói rằng xã hội thực sự và trọn vẹn nhìn nhận phụ nữ có phẩm giá ngang bằng nam giới.
  5. Điều quan trọng chính là con người – từng con người cụ thể – cùng với gia đình của họ. Những phong trào xã hội, những ý thức hệ cộng đồng hay những tuyên bố chính trị vĩ đại nhân danh dân chúng sẽ trở nên vô nghĩa nếu chúng không dẫn đến sự phát triển đích thực của từng con người – nam cũng như nữ – cùng với những quyền bất khả xâm phạm của họ. Tương tự, sẽ không đủ nếu chúng ta ca tụng tự do cá nhân hay sáng kiến tư nhân, nhưng lại để mặc vô số người tiếp tục sống mà không có việc làm xứng đáng, không được bảo vệ hay không thể tiếp cận những nhu cầu căn bản nhất.

Các nguyên tắc của Học thuyết Xã hội

Nguyên tắc công ích

  1. Việc nhìn nhận rằng mỗi người nam nữ đều mang một phẩm giá bất khả nhượng cùng với những quyền mà không quyền lực nhân loại nào được phản bội hay xóa bỏ, đòi hỏi chúng ta phải định hình cách sống chung với nhau, kể cả trong các chọn lựa kinh tế, chính trị và trong chính cấu trúc các thành phố của mình. Từ đó phát sinh nguyên tắc lớn đầu tiên của Học thuyết Xã hội mà tôi muốn nhấn mạnh: công ích. Chúng ta có thể mô tả công ích như diễn tả xã hội của phẩm giá được nhìn nhận nơi mỗi con người. Khi Đức Bênêđictô XVI nói về những giá trị bất khả thương lượng mà Hội Thánh phải luôn bảo vệ, ngài đã kể đến “việc cổ võ công ích.”[75] Đối với người Kitô hữu, việc vượt qua những giới hạn hẹp hòi của lợi ích cá nhân và dấn thân – trong khả năng của mình – cho công ích là một giá trị không thể thương lượng, cũng như việc bảo vệ sự sống vậy.
  2. Công đồng Vaticanô II khẳng định rằng công ích là “tổng thể những điều kiện xã hội cho phép con người, hoặc với tư cách nhóm hoặc cá nhân, đạt tới sự hoàn thiện của mình cách đầy đủ và dễ dàng hơn.”[76] Định nghĩa này đem lại cho chúng ta một điểm quy chiếu quý giá, bởi công ích không thể bị giản lược thành một danh sách các điều kiện hay thể chế. Nó không phải là tổng số những lợi ích cá nhân, cũng không phải là giao điểm của những quyền lợi riêng tư; nhưng là một thiện ích lớn hơn thuộc về tất cả mọi người, và chỉ có thể đạt được, nuôi dưỡng và bảo vệ nhờ nỗ lực chung của tất cả. Chúng ta có thể nói rằng hành động xã hội đạt tới sự viên mãn khi được hướng về thiện ích chung ấy, cũng như hành động luân lý của một cá nhân chỉ đạt tới sự hoàn thiện nơi việc chọn điều thiện đích thực.[77]
  3. Thật vậy, toàn thể luôn “lớn hơn tổng các phần”[78] và chính vì thế, “việc đơn thuần cộng lại các lợi ích cá nhân không đủ để tạo nên một thế giới tốt đẹp hơn cho toàn thể gia đình nhân loại.”[79] Thật là một ảo tưởng nếu nghĩ rằng chỉ cần theo đuổi sự tiến bộ riêng của mình mà không quan tâm đến tha nhân thì đã đủ để góp phần vào thiện ích chung. Cách nghĩ ấy bỏ quên giá trị nội tại và đặc thù của công ích, vốn phát sinh từ sự “liên đới hỗ tương”,[80] tạo nên một mạng lưới thiện ích xã hội lan tỏa và tác động đến mọi người. Công ích là một “giá trị vượt trội”, là thành quả của sự tương tác và ảnh hưởng lẫn nhau giữa nhiều hành động, sáng kiến, nỗ lực và quyết định khác nhau. Nếu chỉ cộng các thiện ích cá nhân lại với nhau, chúng ta sẽ không thể giải thích được sự hiện hữu của “giá trị vượt trội” ấy, một giá trị vừa vượt lên trên từng cá nhân, vừa làm phong phú cho từng người.
  4. Chính việc tìm kiếm công ích làm cho một dân tộc được sinh động, hiểu không phải như một tập hợp cá nhân đơn thuần, nhưng như một thực tại sống động, trong đó con người học biết rằng họ được nối kết với nhau và cùng chịu trách nhiệm về res publica — công việc chung của xã hội. Theo nghĩa ấy, mỗi người góp phần xây dựng dân tộc mình qua “một nỗ lực chậm rãi và gian khổ, đòi hỏi khát vọng hội nhập và sự sẵn sàng đạt tới điều ấy qua việc phát triển một nền văn hóa gặp gỡ hòa bình và đa diện.”[81] Cùng nhau hoạt động cho công ích nghĩa là có chung một viễn tượng. Dĩ nhiên, giữa con người luôn tồn tại nhiều khác biệt về ý thức hệ, thực hành, quyền lợi và cả những bất đồng thường xuyên; nhưng điều đó không có nghĩa là đối thoại để đạt tới những đồng thuận căn bản là điều bất khả. Chính trên nền tảng ấy, mọi người có thể cùng nhau tiến bước.
  5. Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm sự gắn kết, hiệp nhất và tổ chức thích hợp đời sống xã hội dân sự, để công ích được theo đuổi với sự đóng góp của mọi người.   Trong thực tế, điều này có nghĩa là các nhà cầm quyền có bổn phận tinh tế phải “điều hòa các lợi ích của từng lãnh vực với những đòi hỏi của công lý,”[82] tìm kiếm sự quân bình giữa quyền lợi cá nhân và công ích, mà không bỏ quên những người yếu thế nhất. Khi chính trị đánh mất cái nhìn dài hạn và tự thu hẹp mình vào những tính toán ngắn hạn hay các cuộc phân cực vô bổ, thì ngôn ngữ của công ích cũng mất dần tính khả tín, đồng thời những bất bình đẳng và chia rẽ xã hội càng gia tăng.
  6. Điều ấy cũng đúng trong lãnh vực chính trị quốc tế. Khi khoảng cách giữa các quốc gia ngày càng rộng lớn, não trạng đối đầu và gây hấn bắt đầu lan rộng, và hành trình khó khăn hướng tới một thế giới hiệp nhất và huynh đệ hơn lại chịu thêm những bước thụt lùi đau đớn. Trong bối cảnh ấy, nói đến một hành trình chung hướng tới sự phát triển công bằng hơn cho toàn thể gia đình nhân loại “dường như là điều điên rồ.”[83] Tuy nhiên, chúng ta không được đánh mất hy vọng. Tôi mời gọi mọi người hãy nghĩ đến những hình thức cộng tác và những định chế quốc tế hữu hiệu hơn, có khả năng bảo vệ công ích toàn cầu mà không làm tổn hại đến sự đa dạng chính đáng của các dân tộc và quốc gia. Thật vậy, việc cổ võ công ích không bao giờ được tách rời khỏi việc tôn trọng quyền hiện hữu của các dân tộc, quyền bảo tồn căn tính riêng và đóng góp những nét độc đáo của mình cho gia đình nhân loại.[84] Hơn nữa, bất cứ mưu đồ hay kế hoạch nào nhằm tiêu diệt hoặc khuất phục một dân tộc đều là điều vô luân nghiêm trọng và hoàn toàn không thể chấp nhận.
  7. “Trong số nhiều hệ luận của công ích, nguyên tắc về đích đến phổ quát của của cải mang một ý nghĩa đặc biệt trực tiếp.”[85] Trước hết, nguyên tắc này nhắc nhở chúng ta rằng những của cải của trái đất — đất đai, nước, không khí và tài nguyên thiên nhiên — được Thiên Chúa ban cho toàn thể gia đình nhân loại để nâng đỡ sự sống của mọi người, và mỗi người đều có quyền tự nhiên được sử dụng những của cải ấy, cả ở hiện tại lẫn tương lai. Thánh Gioan Phaolô II nhắc lại rằng: “Thiên Chúa đã ban trái đất cho toàn thể nhân loại để nuôi dưỡng mọi thành viên của mình, không loại trừ hay ưu ái bất cứ ai.”[86] Vì thế, “không phù hợp với kế hoạch của Thiên Chúa khi sử dụng quà tặng này theo cách mà lợi ích của nó chỉ thuộc về một số ít người được chọn.”[87] Ngày nay, chúng ta được mời gọi nhận ra rằng đích đến phổ quát ấy không chỉ áp dụng cho của cải vật chất, nhưng còn cho cả những của cải phi vật chất và văn hóa nữa.
  8. Chắc chắn có quyền tư hữu, và quyền ấy mang ý nghĩa cũng như mục đích đặc thù của nó; tuy nhiên, quyền ấy luôn phải lệ thuộc vào nguyên tắc đích đến phổ quát của của cải. Theo Thánh Gioan Phaolô II, sự lệ thuộc này chính là quy luật vàng của đời sống xã hội và là “nguyên tắc đầu tiên của toàn bộ trật tự luân lý và xã hội.”[88] Trong truyền thống của Hội Thánh, của cải luôn được nhìn như một phương thế để bảo vệ và quản lý các thiện ích, hầu phục vụ công ích cách hữu hiệu hơn. Vì thế, “truyền thống Kitô giáo chưa bao giờ nhìn nhận quyền tư hữu như một quyền tuyệt đối hay bất khả xâm phạm,”[89] và chức năng xã hội của quyền sở hữu không thể bị xem như một ý kiến thần học đơn thuần, nhưng là giáo huấn chính thức của Hội Thánh, vốn đã hiện diện ngay trong Thánh Kinh và nơi các Giáo phụ. Chính vì vậy, Đức Thánh Cha Phanxicô nhắc nhở rằng tình liên đới, khi được sống cách trọn vẹn, cũng có nghĩa là “trả lại cho người nghèo điều vốn thuộc về họ.”[90]
  9. Ngày nay, trong số những của cải được dành cho mọi người, chúng ta cũng phải kể đến những hình thức sở hữu mới như bằng sáng chế, thuật toán, các nền tảng kỹ thuật số, cơ sở hạ tầng công nghệ và dữ liệu. Trong một bối cảnh mà sự giàu mạnh của các quốc gia ngày càng phụ thuộc vào tri thức và công nghệ, nếu các của cải này chỉ tập trung trong tay một số ít người mà không có những hình thức chia sẻ và tiếp cận thích đáng, thì sẽ xuất hiện một sự mất cân bằng mới đi ngược lại nguyên tắc đích đến phổ quát của của cải. Điều này càng làm gia tăng khoảng cách giữa những người được tham gia và những người bị loại trừ, giữa những ai có thể bước vào cuộc cách mạng kỹ thuật số và những người vẫn bị bỏ lại bên lề. Hơn nữa, việc chăm sóc ngôi nhà chung của chúng ta, cũng như trách nhiệm đối với người nghèo và các thế hệ tương lai, đòi buộc chúng ta phải điều chỉnh việc sử dụng các tài nguyên thiên nhiên và những khả năng mới do công nghệ mang lại, sao cho luôn tôn trọng môi trường, tránh lãng phí và ngăn ngừa những hình thức khai thác mới.

Nguyên tắc bổ trợ

  1. Nguyên tắc bổ trợ phát sinh từ chính cái nhìn về con người đã hướng dẫn chúng ta suy tư về phẩm giá và công ích. Nếu mỗi người nam và người nữ được mời gọi đảm nhận cuộc sống của mình và góp phần xây dựng xã hội, thì các cơ cấu xã hội cũng phải tôn trọng và nâng đỡ trách nhiệm ấy. Học thuyết Xã hội của Hội Thánh gọi đó là nguyên tắc bổ trợ, theo đó vai trò của cá nhân, gia đình, cộng đồng địa phương và các tổ chức trung gian không được bị thay thế bởi các quyền lực cao hơn. Trái lại, các cấp bậc cao hơn phải nhìn nhận, bảo vệ và cổ võ sự tự do cùng tính sáng tạo của các thực thể cấp thấp hơn, đồng thời phối hợp những đóng góp của họ để tất cả có thể cộng tác hữu hiệu cho công ích.[91]
  2. Ngay từ Đức Lêô XIII và những bước đầu của giáo huấn xã hội hiện đại, Hội Thánh đã khẳng định rằng dù cá nhân hay gia đình đều không thể bị Nhà nước nuốt chửng, nhưng phải được tự do hoạt động trong khả năng của mình, miễn là không gây tổn hại cho công ích.[92] Thánh Gioan Phaolô II tiếp tục và phát triển lập trường ấy khi nhấn mạnh rằng cộng đồng chính trị hiện hữu để phục vụ xã hội dân sự, và Nhà nước phải bảo vệ công ích, can thiệp khi cần thiết, nhưng không được thường xuyên thay thế trách nhiệm của các tổ chức trung gian và các cơ cấu xã hội.[93] Nguyên tắc bổ trợ không biện minh cho việc Nhà nước thoái thác trách nhiệm, nhưng hướng dẫn cách thức hành động của Nhà nước. Thật vậy, sự can thiệp công cộng là cần thiết để giúp mọi thành phần xã hội có thể chu toàn sứ mạng của mình mà không bị bóp nghẹt. Trách nhiệm của cộng đồng chính trị là tạo nên những điều kiện giúp cá nhân, gia đình, các hội đoàn và tổ chức trung gian thực hiện sứ mạng của mình trong xã hội mà không bị thay thế hay bị hạ thấp thành những công cụ thụ động.[94]
  3. Nguyên tắc này mời gọi chúng ta vượt qua mọi hình thức quản trị xã hội mang tính gia trưởng hay chỉ dựa trên phúc lợi, để thay vào đó là việc cổ võ một nền văn hóa trách nhiệm chung trong một Nhà nước biết trân trọng sáng kiến của công dân, và trong một xã hội dân sự có khả năng tạo nên các mối dây liên kết cũng như huy động sức mạnh nhằm phục vụ công ích. Theo nguyên tắc bổ trợ, các quyết định cần được đưa ra ở cấp độ gần với những người liên hệ nhất, nhờ đó đời sống cộng đồng được củng cố và con người tránh bị áp đặt bởi những quyết định đã được định đoạt từ trước. Chính theo cách ấy, người dân có thể thực sự tham gia vào tiến trình quyết định. Khi các gia đình, hội đoàn, cộng đồng địa phương, tổ chức thiện nguyện và những tổ chức thuộc “khu vực thứ ba” được nhìn nhận và nâng đỡ, đời sống xã hội sẽ trở nên gần gũi với con người hơn, các dịch vụ sẽ đáp ứng đúng nhu cầu thực tế hơn, và những giải pháp đưa ra sẽ sáng tạo hơn cũng như tôn trọng phẩm giá của mỗi người hơn.[95]
  4. Nguyên tắc bổ trợ mang một ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh cuộc cách mạng kỹ thuật số. Ở đây, cấp quyền lực cao nhất không còn chỉ là Nhà nước, nhưng còn là các tập đoàn kinh tế và công nghệ lớn đang nắm giữ quyền lực thực sự trên những điều kiện của đời sống thường nhật. Chính cấp độ này — vốn độc quyền về chuyên môn, dữ liệu và quyền quyết định — bao gồm những công ty và nền tảng xác định điều kiện tiếp cận, quy tắc hiển thị, hình thức tương tác và thậm chí cả các cơ hội kinh tế. Nguyên tắc bổ trợ đòi hỏi rằng các tiến trình ấy không được áp đặt từ trên xuống một cách mờ ám và đơn phương, nhưng phải được hướng tới công ích trong tinh thần minh bạch, trách nhiệm giải trình và sự tham gia thực sự của mọi người, bao gồm cả việc kiểm tra độc lập, minh bạch về thuật toán, tiếp cận công bằng đối với dữ liệu và các cơ chế khiếu nại hữu hiệu.[96]
  5. Trong bối cảnh ấy, các quốc gia và những định chế xuyên quốc gia được mời gọi thiết lập các quy tắc công bằng và những bảo đảm hữu hiệu, để các cộng đồng địa phương, các tổ chức trung gian, trường học, đại học, tổ chức tôn giáo và các hội đoàn có tiếng nói và có thể góp phần phân định những chọn lựa ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống hằng ngày của con người, chẳng hạn như việc làm, khả năng tiếp cận các dịch vụ, việc quản lý dữ liệu và môi trường kỹ thuật số. Khi nói đến những quyết định liên quan đến các luồng kinh tế, các nền tảng kỹ thuật số, cũng như việc quản trị dữ liệu và thuật toán, chúng ta không thể để cho một nhóm nhỏ các tác nhân tự ý quyết định mọi sự; trái lại, cần phải xây dựng những hình thức hợp tác tôn trọng các cấp độ khác nhau của cộng đồng toàn cầu và làm cho tất cả cùng chịu trách nhiệm đối với công ích.[97]

Nguyên tắc liên đới

  1. Sau khi suy tư về công ích và nguyên tắc bổ trợ, giờ đây tôi muốn nói đến nguyên tắc liên đới. Nguyên tắc này phát sinh từ chính cái nhìn đức tin về con người: mỗi người đều được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa và được đặt vào trong một mạng lưới các tương quan gắn kết họ với tha nhân, với các dân tộc và với toàn thể công trình tạo dựng. Thánh Phaolô VI nhận định rằng những đòi buộc của tình liên đới, công bằng và bác ái được đặt nền trên các mối dây huynh đệ tự nhiên và siêu nhiên nối kết con người với nhau và với các dân tộc.[98] Tình huynh đệ không chỉ là một khát vọng của người tín hữu, nhưng còn là một thực tại xã hội và chính trị cần được thể hiện qua những chọn lựa và dấn thân chung trong đời sống cộng đồng. Vì thế, liên đới là sự nhìn nhận cụ thể rằng tương lai của mỗi cá nhân gắn liền với tương lai của mọi người; thật vậy, “không ai được cứu độ một mình.”[99] Chính ở đây, mối liên hệ mật thiết giữa nguyên tắc bổ trợ và liên đới trở nên rõ ràng. Nếu bổ trợ không gắn liền với liên đới, nó sẽ chỉ còn là sự bảo vệ những quyền lợi cục bộ; ngược lại, nếu liên đới không được nâng đỡ bởi nguyên tắc bổ trợ, nó sẽ suy thoái thành một thứ chủ nghĩa phúc lợi không giúp con người trưởng thành trong trách nhiệm.[100] Sự liên kết này còn liên hệ tới trách nhiệm tham gia cách chân thực vào đời sống xã hội. Liên đới được biểu lộ khi mỗi người, cả với tư cách cá nhân lẫn cộng đồng, tham gia vào đời sống xã hội — qua việc tìm hiểu thông tin, đối thoại với người khác, cất lên tiếng nói của mình và góp phần vào những quyết định công cộng — đồng thời đảm nhận trách nhiệm thật sự để công ích được thực hiện qua sự phân định và quyết định chung.
  2. Trong nhiều lãnh vực, chúng ta đã và đang sống một thứ “liên đới trên thực tế,” bởi đời sống con người ngày càng đan xen chặt chẽ với nhau. Các mạng lưới kỹ thuật số kết nối con người và cộng đồng trên khắp thế giới theo thời gian thực; các nền kinh tế và truyền thông toàn cầu khiến những biến cố xảy ra ở một nơi có thể ảnh hưởng sâu rộng đến mọi nơi khác. Tuy nhiên, mạng lưới tương quan ấy chỉ thực sự trở thành tình liên đới theo nghĩa trọn vẹn khi nó trở thành một chọn lựa có ý thức. Đức tin mời gọi chúng ta nhìn thực tại ấy như một tiếng gọi: chúng ta không chỉ là những người sống cạnh nhau, nhưng còn được trao phó cho nhau, để mỗi người có thể, trong khả năng của mình, đảm nhận trách nhiệm đối với cuộc sống và những thương tích của anh chị em mình. Liên đới xuất hiện chính khi chúng ta quyết định không thờ ơ trước những gì xảy đến cho tha nhân, nhưng biến những mối dây liên kết không thể tránh khỏi — về kinh tế, văn hóa và công nghệ — thành những con đường chia sẻ, hợp tác và chăm sóc lẫn nhau, bằng cách “suy nghĩ và hành động theo tinh thần cộng đồng.”[101]
  3. Học thuyết Xã hội của Hội Thánh nhấn mạnh rằng liên đới vừa là một nguyên tắc vừa là một nhân đức. Với tư cách là nguyên tắc, liên đới diễn tả trật tự khách quan của các tương quan giữa con người, các nhóm và các dân tộc, nhấn mạnh sự lệ thuộc hỗ tương trong đó thiện ích của mỗi người tùy thuộc vào thiện ích của người khác. Với tư cách là nhân đức, liên đới đòi hỏi một “quyết tâm mạnh mẽ và bền bỉ”[102] nhằm dấn thân cho công ích, đặc biệt quan tâm đến những người túng thiếu nhất. Đức Thánh Cha Phanxicô nhận định rằng liên đới là “một cách làm nên lịch sử”[103] giúp xây dựng các cộng đồng chứ không chỉ là những đám đông cá nhân rời rạc. Chính vì thế, liên đới đòi hỏi một lối sống khiêm tốn và chia sẻ, khả năng từ bỏ những lợi ích trước mắt để tạo ra cơ hội cho người khác trong tương lai, và sự can đảm chất vấn những thói quen cũng như đặc quyền của chính mình — kể cả trong lãnh vực tiêu thụ kỹ thuật số và việc sử dụng công nghệ — khi những điều ấy ngăn cản người khác được sống xứng hợp với phẩm giá con người.
  4. Trong một thế giới ngày càng liên kết chặt chẽ giữa con người, cộng đồng và các quốc gia, tình liên đới cũng mang một chiều kích toàn cầu. Đức Bênêđictô XVI đã nhấn mạnh mạnh mẽ mối liên hệ giữa phát triển, công bằng và trách nhiệm đối với các thế hệ tương lai, khi khẳng định rằng sự phát triển đích thực đòi hỏi tình liên đới và công bằng liên thế hệ,[104] đồng thời cần ý thức về các mối dây liên kết chúng ta với môi trường tự nhiên. Ngày nay, trách nhiệm ấy còn mở rộng tới cả cơ sở hạ tầng kỹ thuật số và thông tin. Cũng như môi trường tự nhiên, “hệ sinh thái kỹ thuật số” có thể được bảo tồn hoặc bị khai thác, được chia sẻ hoặc bị độc quyền. Tình liên đới đòi hỏi rằng các quyết định liên quan đến dữ liệu, thuật toán, các nền tảng kỹ thuật số và trí tuệ nhân tạo phải lưu tâm không chỉ đến lợi ích tức thời của một số ít người, nhưng còn đến ảnh hưởng của chúng trên toàn thể các dân tộc và trên các thế hệ tương lai.

Nguyên tắc công bằng xã hội

  1. Đối với cộng đoàn Kitô hữu, công bằng xã hội là một cách cụ thể để bước theo Đức Giêsu và trung thành với Tin Mừng. Trong Tân Ước, Đức Giêsu loan báo “Tin Mừng cho người nghèo khó” (Lc 4,18) và đồng hóa chính mình với những người bé nhỏ, đau yếu, tù đày và khách lạ (x. Mt 25,31-46). Qua đó, Người dạy chúng ta rằng công bằng phát sinh và đạt tới viên mãn nơi tình huynh đệ, bởi cách chúng ta đối xử với những người bé nhỏ nhất chính là thước đo cụ thể cho mối tương quan của chúng ta với Thiên Chúa và với anh chị em mình. Tuy nhiên, công bằng không chỉ liên quan đến hành vi của từng cá nhân, nhưng còn đến cách các cơ cấu xã hội được hình thành và tổ chức. Về điểm này, Công đồng Vaticanô II nhắc nhở rằng mọi định chế đều được mời gọi phục vụ con người và phẩm giá của họ.[105] Vì thế, công bằng xã hội được biểu lộ qua khả năng của một trật tự xã hội, kinh tế và chính trị trong việc giúp mọi người — đặc biệt là những người yếu thế nhất — được sống xứng hợp với phẩm giá con người mà không ai bị bỏ lại phía sau.
  2. Huấn quyền gần đây của Hội Thánh luôn nhấn mạnh rằng công bằng xã hội phải bắt đầu từ những người bé nhỏ nhất. Thánh Gioan Phaolô II nói đến “sự chọn lựa ưu tiên dành cho người nghèo”[106] như một định hướng phải chi phối cả các chọn lựa cá nhân lẫn xã hội; trong khi đó, Đức Thánh Cha Phanxicô lên án “nền văn hóa loại bỏ”[107] đang tạo ra ngày càng nhiều hình thức loại trừ mới. Từ viễn tượng ấy, công bằng xã hội đòi hỏi chúng ta nhìn đến con người và các cộng đồng khởi đi từ những người dễ bị tổn thương nhất: người nghèo, người di dân, người tị nạn, người phải di dời trong chính quê hương mình, nạn nhân của bạo lực và những ai đang sống tại các vùng ngoại biên của xã hội hay của đời sống hiện sinh.
  3. Khái niệm “công bằng xã hội” giúp chúng ta nhận ra rằng bất công không chỉ phát sinh từ những lựa chọn sai lầm của cá nhân, nhưng còn từ những cơ cấu, cơ chế và hệ thống kinh tế – văn hóa tự động sản sinh bất bình đẳng. Chính trong chiều hướng ấy, Thánh Gioan Phaolô II đã nói đến “các cơ cấu tội lỗi”[108] chống lại ý muốn của Thiên Chúa và đòi hỏi một sự hoán cải vừa cá nhân vừa xã hội. Theo viễn tượng này, công bằng không chỉ là việc phân phối công bằng hơn các nguồn lực hay sửa chữa những bất công hiện tại, nhưng còn mang chiều kích phục hồi. Nó nhằm hàn gắn những mối dây đã bị đổ vỡ và tái hội nhập những người bị loại trừ, đồng thời lưu tâm đến những thương tích do bất công gây ra, như chiến tranh, chủ nghĩa thực dân, kỳ thị chủng tộc hay giới tính, bạo lực đối với các dân tộc và những hình thức bóc lột khác. Điều này có thể bao gồm việc phục hồi phẩm giá và tiếng nói cho những người từng bị phớt lờ, chữa lành ký ức tập thể, chống lại những luật lệ và thực hành mang tính kỳ thị, cũng như hỗ trợ cụ thể cho những ai vẫn còn mang hậu quả của những sai trái trong quá khứ.
  4. Trong thời đại hôm nay, công bằng xã hội cũng phải đối diện với môi trường mới được hình thành bởi công nghệ kỹ thuật số. Sự lan rộng của các mạng lưới toàn cầu, các nền tảng số và các hệ thống trí tuệ nhân tạo đang làm thay đổi cách chúng ta tiếp cận thông tin, giao tiếp và sử dụng các dịch vụ. Công bằng đòi hỏi phải ngăn chặn sự xuất hiện của những hình thức loại trừ và tước đoạt tự do mới: những cá nhân và dân tộc bị cản trở hoặc bị từ chối tiếp cận các công nghệ căn bản; những cộng đồng phải chịu sự giám sát xâm phạm đời tư; những nhóm xã hội bị thiệt thòi bởi các thuật toán thiếu minh bạch vốn perpetuate thành kiến và phân biệt đối xử. Trong thời đại kỹ thuật số, một trật tự xã hội công bằng phải bảo đảm cho mọi người cơ hội bình đẳng, bảo vệ những thành phần trẻ tuổi và yếu thế nhất, chống lại hận thù và thông tin sai lệch, đồng thời đặt việc sử dụng dữ liệu và công nghệ dưới sự giám sát công cộng, để nguyên tắc hướng dẫn không chỉ là lợi nhuận nhưng là phẩm giá của mỗi con người và công ích của toàn thể nhân loại.
  5. Một phép thử quan trọng của công bằng xã hội ngày nay chính là cách đối xử với người di dân, người tị nạn và những ai buộc phải rời bỏ quê hương vì nghèo đói, bạo lực, biến đổi khí hậu hay thảm họa môi trường. Cách mà một xã hội đối xử với họ cho thấy ý thức công bằng của xã hội ấy được thúc đẩy bởi nỗi sợ hãi hay bởi tinh thần huynh đệ. Đức Thánh Cha Phanxicô mời gọi chúng ta nhìn người di dân không chỉ như một vấn đề cần giải quyết, nhưng như hình ảnh sống động của Dân Thiên Chúa đang lữ hành.[109] Họ là những con người có phẩm giá, có khả năng và có ước mơ, những người có quyền được đối xử với sự tôn trọng và được mời gọi trở thành những thành viên tích cực trong xã hội đón nhận họ. Công bằng xã hội trong lãnh vực này đòi hỏi ít là hai cam kết bổ túc cho nhau. Một mặt, cần bảo vệ niềm hy vọng chính đáng của những người buộc phải ra đi bằng việc bảo đảm những con đường an toàn và hợp pháp, những điều kiện tiếp nhận xứng đáng và những lộ trình hội nhập chân thực. Mặt khác, cần cổ võ quyền được ở lại quê hương mình trong hòa bình và an ninh, bằng cách giải quyết những nguyên nhân sâu xa buộc con người phải di cư, bao gồm cả những nguyên nhân phát sinh từ bất công kinh tế và cuộc khủng hoảng khí hậu. Khi những quyền này được tôn trọng, việc di cư có thể trở thành cơ hội gặp gỡ và làm phong phú lẫn nhau giữa các dân tộc.

Phát triển con người toàn diện

  1. Trong Thông điệp Populorum Progressio, Thánh Phaolô VI khẳng định rằng sự phát triển chỉ thật sự chân chính khi nó là “toàn diện,” nghĩa là có khả năng “thăng tiến mỗi con người và toàn thể con người.”[110] Trong những thập niên tiếp theo, Học thuyết Xã hội của Hội Thánh đã tiếp tục khai triển và đào sâu ý nghĩa của cách diễn tả này nhằm chỉ ra những phương thế cụ thể để các nguyên tắc cao quý — phẩm giá con người, công ích, đích đến phổ quát của của cải, nguyên tắc bổ trợ, tình liên đới và công bằng xã hội — được thực hiện trong đời sống thực tế. Khi nói đến “phát triển con người toàn diện,” chúng ta muốn nói đến một tiến trình trong đó sự tăng trưởng của cá nhân và các dân tộc bao hàm mọi chiều kích của đời sống con người, đồng thời mở ra tương lai cho cả các thế hệ mai sau.
  2. Đối với cá nhân cũng như các quốc gia, phát triển vừa là một quyền vừa là một bổn phận. Cần phải có những điều kiện tối thiểu giúp mỗi người và mỗi dân tộc có thể phát triển phù hợp với phẩm giá của mình, mà không bị giữ trong tình trạng lệ thuộc hay bị loại trừ khỏi việc tiếp cận những thiện ích cần thiết. Sự phát triển chỉ thực sự mang tính nhân bản khi đặt con người ở trung tâm thay vì việc tích lũy của cải, và khi hướng đến các dân tộc cũng như từng cá nhân. Công bằng đòi hỏi phải nhìn nhận các quyền của xã hội và các quyền của các dân tộc, đồng thời bao hàm trách nhiệm đối với các thế hệ tương lai. Sự phát triển không còn là nhân bản nếu nó làm gia tăng mức tiêu thụ cho một số người bằng cách đẩy gánh nặng và hậu quả sang cho người khác, hoặc biến cả những vùng đất và dân tộc thành những thực thể lệ thuộc, không thể phát huy trọn vẹn tiềm năng của mình.[111] Phát triển là toàn diện khi không bị giới hạn trong lãnh vực kinh tế, nhưng còn thăng tiến chất lượng cuộc sống trong các chiều kích tinh thần, văn hóa, luân lý và tương quan, đồng thời tôn trọng ngôi nhà chung, sự đa dạng của các dân tộc và lối sống riêng của họ.[112]
  3. Ngày nay, khái niệm phát triển con người toàn diện trở thành tiêu chuẩn để đánh giá nền sinh thái toàn diện, vốn đã trở thành một chiều kích không thể thiếu của Học thuyết Xã hội của Hội Thánh. Thật vậy, phẩm chất của sự phát triển được đo lường qua khả năng kết hợp công bằng đối với con người với việc chăm sóc ngôi nhà chung của chúng ta; đồng thời cổ võ những điều kiện sống xứng đáng, khả năng tiếp cận các thiện ích cần thiết, những tương quan xã hội công bằng, sự chăm sóc công trình tạo dựng và trách nhiệm đối với các thế hệ tương lai. Bởi đó, tiến bộ đích thực không thể là thứ phát triển làm gia tăng phúc lợi cho một số người bằng cách hủy hoại các hệ sinh thái, chuyển gánh nặng cho những cộng đồng nghèo nhất hoặc làm tổn hại đến điều kiện sống của những người sẽ đến sau chúng ta.
  4. Dưới ánh sáng ấy, phát triển con người toàn diện trở thành khung quy chiếu giúp chúng ta giải thích những biến đổi của thời đại hôm nay, kể cả những thay đổi do cuộc cách mạng kỹ thuật số mang lại. Những đổi mới công nghệ, bao gồm trí tuệ nhân tạo, không hề trung lập, bởi chúng có thể hoặc thúc đẩy sự tham gia và công bằng, hoặc làm gia tăng bất bình đẳng, kiểm soát và loại trừ. Chính vì thế, chúng cần được đánh giá qua một câu hỏi nền tảng: liệu chúng có thực sự giúp con người và các dân tộc trở nên nhân bản hơn, huynh đệ hơn, đồng thời tôn trọng ngôi nhà chung và các thế hệ tương lai hay không? Chính ở đây, các nguyên tắc của Học thuyết Xã hội trở thành những tiêu chuẩn cụ thể để phân định các vấn đề mà chúng ta sẽ đề cập trong các chương tiếp theo.

Một cuộc xét mình dành cho Hội Thánh

  1. Sau cùng, tôi muốn đề cập đến một điểm đặc biệt gần gũi với tâm hồn tôi. Học thuyết Xã hội không chỉ là một sứ điệp dành cho xã hội, nhưng còn là một cuộc xét mình dành cho chính Hội Thánh — mái nhà và trường học của sự hiệp thông — vốn luôn được mời gọi bảo đảm rằng các nguyên tắc được trình bày trong chương này cũng được áp dụng, đặc biệt ngay trong các cơ cấu của mình. Trong bối cảnh Giáo Hội, công ích mang hình thức của một hành trình hiệp hành hướng tới sứ vụ phục vụ Nước Thiên Chúa. Thật vậy, Hội Thánh chính là “chủ thể cộng đoàn và lịch sử của tính hiệp hành và sứ vụ.”[113] Điều này đòi hỏi phải quan tâm đến cách thức các quyết định được đưa ra và trách nhiệm được thực thi. Văn kiện Chung kết của Thượng Hội đồng xác định rằng một nền văn hóa minh bạch, trách nhiệm giải trình và lượng giá là những thực hành cốt yếu cho sự hoán cải truyền giáo.[114]
  2. Trong viễn tượng ấy, nguyên tắc bổ trợ trở thành nguyên lý hướng dẫn đời sống quản trị và mục vụ. Điều này đòi hỏi phải nhìn nhận và nâng đỡ các tín hữu cũng như các tổ chức trung gian trong Giáo Hội khi họ chu toàn trách nhiệm của mình; đồng thời biết trân trọng các đặc sủng và khả năng khác nhau, tránh mọi hình thức gia trưởng bóp nghẹt tự do Tin Mừng. Trên bình diện cụ thể, việc tham gia của các tín hữu đã lãnh nhận Bí tích Rửa tội vào tiến trình quyết định và trách nhiệm chung trong sứ vụ phải được thực hiện qua những cơ chế tham gia thực sự chứ không chỉ mang tính hình thức.[115]
  3. Đối với cộng đoàn Kitô hữu, tình liên đới bắt nguồn từ chính mầu nhiệm Đức Kitô và được nuôi dưỡng nhờ Bí tích Thánh Thể. Tình liên đới phát sinh từ sự hiệp thông trong đức tin và các Bí tích: Bí tích Rửa tội và Thêm sức kết hợp chúng ta trong Đức Kitô để trở nên một Thân Thể và một Thần Khí, một lòng một ý (x. Ep 4,4; Cv 4,32). Bí tích Thánh Thể, là bí tích hiệp nhất, nuôi dưỡng sự thuộc về Thân Thể Đức Kitô và dạy chúng ta biết chia sẻ cho nhau. Những cảm thức đa dạng hiện diện trong Hội Thánh và những xác tín mạnh mẽ thúc đẩy mỗi người sẽ trở thành nguồn phong phú nếu tất cả vẫn bén rễ trong xác tín rằng hiệp nhất là một hồng ân được lãnh nhận và đồng thời là một trách nhiệm phải được thực hiện.
  4. Sống công bằng trong Hội Thánh có nghĩa là thanh luyện các tương quan và cơ cấu Giáo Hội khỏi những lệch lạc gây ra bất bình đẳng, thiếu minh bạch và lạm dụng quyền lực. Trong chiều hướng ấy, việc lắng nghe các nạn nhân của những lạm dụng thiêng liêng, kinh tế, cơ chế, tính dục, quyền lực cũng như lạm dụng lương tâm là một phần thiết yếu của hành trình công lý, bao gồm việc nhìn nhận những tổn thương đã gây ra, thực hiện việc đền bù thích đáng và đưa ra các biện pháp ngăn ngừa tái diễn. Mọi quyền bính đều nhằm phục vụ sự hiệp thông và sứ vụ. Mọi thẩm quyền đều nhằm phục vụ Dân Thiên Chúa. Thừa tác vụ phục vụ này không chỉ được thể hiện qua đức tin được cử hành và sống trong các Bí tích, hay qua việc thực thi phong cách hiệp hành, nhưng còn qua việc chia sẻ cụ thể các nguồn lực. Theo gương Hội Thánh sơ khai, các nguồn lực của Giáo Hội cần được phân chia để “không ai trong chúng ta phải túng thiếu” (x. Cv 4,34), đồng thời việc quản lý chúng phải nâng đỡ sứ vụ loan báo Tin Mừng cho những người nghèo nhất. Cần cổ võ việc thường xuyên lượng giá cách thức thực thi các trách nhiệm thừa tác, không phải như những phán xét nhắm vào cá nhân, nhưng như những phương thế học hỏi và sửa đổi nhằm phục vụ sứ vụ.[116] Chỉ khi chúng ta mở lòng cho hoạt động của Chúa Thánh Thần, các nguyên tắc của Học thuyết Xã hội mới thực sự nhập thể vào đời sống Giáo Hội. Khi ấy, Hội Thánh mới có thể làm chứng cách đáng tin cho xã hội rằng việc cùng nhau tìm kiếm công ích trong tinh thần trách nhiệm chung và tình huynh đệ không phải là một điều không tưởng, nhưng là một khả thể có thật.[117]

—–

[1] Second Vatican Ecumenical Council, Pastoral Constitution Gaudium et Spes, 22: AAS 58 (1966), 1042.

[2] Cf. ibid., 11: AAS 58 (1966), 1033-1034.

[3] Second Vatican Ecumenical Council, Dogmatic Constitution Lumen Gentium, 1: AAS 57 (1965), 5.

[4] Cf. Leo XIII, Encyclical Letter Rerum Novarum (15 May 1891), 22: ASS 23 (1890-1891), 653.

[5] Benedict XVI, Encyclical Letter Caritas in Veritate (29 June 2009), 69: AAS 101 (2009), 702.

[6] Francis, Encyclical Letter Laudato Si ’ (24 May 2015), 104: AAS 107 (2015), 888.

[7] Ibid.

[8] Saint Augustine, Confessions, I, 1, 1: CCSL 27, Turnhout 1981, 1.

[9] Francis, Apostolic Exhortation Evangelii Gaudium (24 November 2013), 183: AAS 105 (2013), 1097.

[10] Second Vatican Ecumenical Council, Pastoral Constitution Gaudium et Spes, 36: AAS 58 (1966), 1054; cf. Decree on the Apostolate of the Laity Apostolicam Actuositatem, 7: AAS 58 (1966), 843-844.

[11] Second Vatican Ecumenical Council, Pastoral Constitution Gaudium et Spes, 44: AAS 58 (1966), 1065.

[12] Francis, Apostolic Exhortation Evangelii Gaudium (24 November 2013), 257; AAS 105 (2013), 1123.

[13] Saint John Paul II, Apostolic Letter issued “Motu Proprio” Socialium Scientiarum (1 January 1994): AAS 86 (1994), 209.

[14] Francis, Encyclical Letter Laudato Si ’ (24 May 2015), 61: AAS 107 (2015), 871.

[15] Cf. Saint John Paul II, Encyclical Letter Sollicitudo Rei Socialis (30 December 1987), 41: AAS  80 (1988), 570-572.

[16] Saint John Paul II, Apostolic Letter Tertio Millennio Adveniente (10 November 1994), 35: AAS 87 (1995), 27.

[17] Address to the Members of the “Centesimus Annus Pro Pontifice” Foundation (17 May 2025): AAS 117 (2025), 696.

[18] Francis, Apostolic Exhortation Evangelii Gaudium (24 November 2013), 222: AAS 105 (2013), 1111.

[19] Cf. ibid., 236: AAS 105 (2013), 1115; Francis, Encyclical Letter Fratelli Tutti (3 October 2020), 215: AAS 112 (2020), 1045-1046.

[20] Second Vatican Ecumenical Council, Dogmatic Constitution Lumen Gentium, 13: AAS 57 (1965), 17.

[21] Cf. Saint Paul VI, Apostolic Letter Octogesima Adveniens (14 May 1971), 4: AAS 63 (1971), 403.

[22] Cf. Francis, Apostolic Exhortation Evangelii Gaudium (24 November 2013), 243: AAS 105 (2013), 1118.

[23] Cf. Pius XII, Apostolic Exhortation Menti Nostrae (23 September 1950): AAS 42 (1950), 657-702.

[24] Saint John Paul II, Encyclical Letter Centesimus Annus (1 May 1991), 5: AAS 83 (1991), 799.

[25] Pius XI, Encyclical Letter Quadragesimo Anno (15 May 1931), 39: AAS 23 (1931), 189; cf. Pius XII, Radio Message on the 50th Anniversary of “Rerum Novarum”: AAS 33 (1941), 198.

[26] Cf. Pius XII, Address to the Sacred College of Cardinals and the Roman Prelature (24 December 1940): AAS 33 (1941), 13.

[27] Cf. Saint John XXIII, Encyclical Letter Mater et Magistra (15 May 1961), 2-3: AAS 53 (1961), 402.

[28] Cf. Saint John XXIII, Encyclical Letter Pacem in Terris (11 April 1963), 87: AAS 55 (1963), 301.

[29] Cf. Second Vatican Ecumenical Council, Pastoral Constitution Gaudium et Spes , 26: AAS 58 (1966), 1046-1047.

[30] Cfr. Second Vatican Ecumenical Council, Declaration Dignitatis Humanae, 2: AAS 58 (1966), 930-931.

[31] Saint Paul VI, Encyclical Letter Populorum Progressio (26 March 1967), 14: AAS 59 (1967), 264.

[32] Ibid ., 76: AAS 59 (1967), 299.

[33] Cf. Saint Paul VI, Apostolic Letter Octogesima Adveniens (14 May 1971), 4-7: AAS 63 (1971); 404-406.

[34] Saint John Paul II, Encyclical Letter Sollicitudo Rei Socialis (30 December 1987), 36: AAS 80 (1988), 561.

[35] Cf. Saint John Paul II, Encyclical Letter Laborem Exercens (14 September 1981), 19: AAS 73 (1981), 625-629.

[36] Cf. ibid, 10: AAS 73 (1981), 600-602.

[37] Cf. Saint John Paul II, Encyclical Letter Sollicitudo Rei Socialis (30 December 1987), 14: AAS 80 (1988), 526-528.

[38] Cf. ibid., 16: AAS 80 (1988), 531.

[39] Cf. ibid., 31-33: AAS 80 (1988), 555-559.

[40] Cf. Saint John Paul II, Encyclical Letter Centesimus Annus (1 May 1991), 46: AAS 83 (1991), 850-851.

[41] Cf. ibid., 42: AAS 83 (1991), 844-846.

[42] Benedict XVI, Encyclical Letter Caritas in Veritate (29 June 2009), 21: AAS 101 (2009), 656.

[43] Cf. ibid., 22: AAS 101 (2009), 657.

[44] Cf. ibid., 24: AAS 101 (2009), 658-659.

[45] Cf. ibid., 36: AAS 101 (2009), 671-672.

[46] Ibid., 2: AAS 101 (2009), 642

[47] Cf. Francis, Apostolic Exhortation Evangelii Gaudium (24 November 2013), 198: AAS 105 (2013), 1103.

[48] Francis, Encyclical Letter Laudato Si ’ (24 May 2015), 49: AAS 107 (2015), 866.

[49] Francis, Encyclical Letter Fratelli Tutti (3 October 2020), 127: AAS 112 (2020), 1013.

[50] Francis, Encyclical Letter Dilexit Nos (24 October 2024), 167: AAS 116 (2024), 1421.

[51] Cf. Pontifical Council for Justice and Peace, Compendium of the Social Doctrine of the Church, Vatican City 2004, 32.

[52] Second Vatican Ecumenical Council, Pastoral Constitution Gaudium et Spes, 24: AAS 58 (1966), 1045.

[53] Ibid., 22: AAS 58 (1966), 1042.

[54] Cf. Pontifical Council For Justice and Peace, Compendium of the Social Doctrine of the Church, 38.

[55] Saint John Paul II, Encyclical Letter Redemptor Hominis (4 March 1979), 14: AAS 71 (1979), 284.

[56] Cf. Benedict XVI, Encyclical Letter Caritas in Veritate (29 June 2009), 11: AAS 101 (2009), 647-648.

[57] Saint John Paul II, Encyclical Letter Veritatis Splendor (6 August 1993), 31: AAS 85 (1993), 1159.

[58]  Cf. Second Vatican Ecumenical Council, Pastoral Constitution Gaudium et Spes, 26: AAS 58 (1966), 1046-1047.

[59] Cf. Saint John Paul II, Encyclical Letter Centesimus Annus (1 May 1991), 11: AAS 83 (1991), 806-807.

[60] Cf. Dicastery for the Doctrine of the Faith, Declaration Dignitas Infinita (2 April 2024), 7: AAS 116 (2024), 592-593.

[61] Cf. ibid., 8: AAS 116 (2024), 593-594.

[62] Ibid., 1: AAS 116 (2024), 589-590.

[63] Cf. Saint John Paul II, Angelus with disabled people in the Cathedral of Osnabrück (16 November 1980): Insegnamenti di Giovanni Paolo II, vol. III/2, Vatican City 1980, 1232.

[64] Pontifical Council for Justice and Peace, Compendium of the Social Doctrine of the Church, 152.

[65] Cf. Saint John Paul II, Address to the 50th General Assembly of the United Nations (5 October 1995), 2: Insegnamenti di Giovanni Paolo II, vol. XVIII/2, Vatican City 1998, 731.

[66] Saint John Paul II, Address to the 34th General Assembly of the United Nations (2 October 1979), 7: AAS 71 (1979), 1148.

[67] Saint John Paul II, Message for the 32nd World Day of Peace (1 January 1999), 3: AAS 91 (1999), 379.

[68] Cf. Saint John XXIII, Encyclical Letter Pacem in Terris (11 April 1963), 5: AAS 55 (1963), 259.

[69] Saint Paul VI, Message to the International Conference on Human Rights (15 April 1968): AAS 60 (1968), 285.

[70] Cf. Saint John Paul II, Encyclical Letter Evangelium Vitae (25 March 1995), 2: AAS 87 (1995), 402.

[71] Cf. Second Vatican Ecumenical Council, Pastoral Constitution Gaudium et Spes, 27: AAS 58 (1966), 1047-1048; cf. Saint John Paul II, Encyclical Letter Veritatis Splendor (6 August 1993), 80: AAS 85 (1993), 1197-1198; cf. Saint John Paul II, Encyclical Letter Evangelium Vitae (25 March 1995), 7-28: AAS 87 (1995), 408-427.

[72] Francis, Encyclical Letter Fratelli Tutti (3 October 2020), 208: AAS 112 (2020), 1043.

[73] Cf. ibid., 209: AAS 112 (2020), 1043-1044.

[74] Ibid., 23: AAS 112 (2020), 977. Cf. Apostolic Exhortation Evangelii Gaudium (24 November 2013), 212: AAS 105 (2013), 1108.

[75] Benedict XVI, Apostolic Exhortation Sacramentum Caritatis (22 February 2007), 83: AAS 99 (2007), 169.

[76] Second Vatican Ecumenical Council, Pastoral Constitution Gaudium et Spes , 26, AAS 58 (1966), 1046-1047.

[77] Cf. Pontifical Council for Justice and Peace, Compendium of the Social Doctrine of the Church , 164.

[78] Francis, Apostolic Exhortation Evangelii Gaudium (24 November 2013), 235: AAS 105 (2013), 1115.

[79] Francis, Encyclical Letter Fratelli Tutti (3 October 2020), 105: AAS 112 (2020), 1005.

[80] Saint John Paul II, Encyclical Letter Sollicitudo Rei Socialis (30 December 1987), 38: AAS 80 (1988), 564.

[81] Francis, Apostolic Exhortation Evangelii Gaudium (24 November 2013), 220: AAS 105 (2013), 1110.

[82] Pontifical Council for Justice and Peace, Compendium of the Social Doctrine of the Church , 169.

[83] Francis, Encyclical Letter Fratelli Tutti (3 October 2020), 16: AAS 112 (2020), 974.

[84] Cf. Saint John Paul II, Address to the 50th General Assembly of the United Nations (5 October 1995), 8: Insegnamenti di Giovanni Paolo II, vol. XVIII/2, 735.

[85] Pontifical Council for Justice and Peace, Compendium of the Social Doctrine of the Church, 171.

[86] Saint John Paul II, Encyclical Letter Centesimus Annus (1 May 1991), 31: AAS 83 (1991), 831.

[87] Saint John Paul II, Homily during the Mass celebrated for farmers at Recife (7 July 1980), 4: AAS 72 (1980), 926.

[88] Saint John Paul II, Encyclical Letter Laborem Exercens (14 September 1981), 19: AAS 73 (1981), 626.

[89] Francis, Encyclical Letter Laudato Si ’ (24 May 2015), 93: AAS 107 (2015), 884; cf. Encyclical Letter Fratelli Tutti (3 October 2020), 120: AAS 112 (2020), 1010.

[90] Francis, Apostolic Exhortation Evangelii Gaudium (24 November 2013), 189: AAS 105 (2013), 1099.

[91] Cf. Pontifical Council for Justice and Peace, Compendium of the Social Doctrine of the Church, 187.

[92] Cf. Leo XIII, Encyclical Letter Rerum Novarum (15 May 1891), 26: ASS 23 (1890-1891), 656.

[93] Cf. Saint John Paul II, Encyclical Letter Centesimus Annus (1 May 1991), 11: AAS 83 (1991), 806-807.

[94] Cf. ibid.

[95] Cf. ibid., 48: AAS 83 (1991), 852-854.

[96] Cf. Francis, Encyclical Letter Fratelli Tutti (3 October 2020), 169: AAS 112 (2020), 1028.

[97] Cf. ibid., 16 Cf. Saint Paul VI, Encyclical Letter Populorum Progressio (26 March 1967), 17: AAS 59 (1967), 265-266.8: AAS 112 (2020), 1027-1028.

[98] Cf. Saint Paul VI, Encyclical Letter Populorum Progressio (26 March 1967), 17: AAS 59 (1967), 265-266.

[99] Francis, Encyclical Letter Fratelli Tutti (3 October 2020), 32 and 54: AAS 112 (2020), 980 and 988.

[100] Cf. Benedict XVI, Encyclical Letter Caritas in Veritate (29 June 2009), 58: AAS 101 (2009), 693-694.

[101] Francis, Encyclical Letter Fratelli Tutti (3 October 2020), 116: AAS 112 (2020), 1009.

[102] Saint John Paul II, Encyclical Letter Sollicitudo Rei Socialis (30 December 1987), 38: AAS 80 (1988), 564.

[103] Francis, Encyclical Letter Fratelli Tutti (3 October 2020), 116: AAS 112 (2020), 1009.

[104] Cf. Benedict XVI, Encyclical Letter Caritas in Veritate (29 June 2009), 48: AAS 101 (2009), 685.

[105] Cf. Second Vatican Ecumenical Council, Pastoral Constitution Gaudium et Spes, 25: AAS 58 (1966), 1045-1046.

[106] Cf. Saint John Paul II, Encyclical Letter Sollicitudo Rei Socialis (30 December 1987), 42: AAS 80 (1988), 572-574.

[107] Francis, Apostolic Exhortation Evangelii Gaudium (24 November 2013), 53: AAS 105 (2013), 1042.

[108] Cf. Saint John Paul II, Encyclical Letter Sollicitudo Rei Socialis (30 December 1987), 36-37: AAS 80 (1988), 561-564.

[109] Cf. Francis, Message for the 110th World Day of Migrants and Refugees (29 September 2024): AAS 116 (2024), 735.

[110] Saint Paul VI, Encyclical Letter Populorum Progressio (26 March 1967), 14: AAS 59 (1967), 264.

[111] Cf. ibid., 17: AAS 59 (1967), 265-266; Francis, Encyclical Letter Fratelli Tutti (3 October 2020), 125-127: AAS 112 (2020), 1012-1013.

[112] Cf. Saint Paul VI, Encyclical Letter Populorum Progressio (26 March 1967), 14: AAS 59 (1967), 264; Benedict XVI, Address to the Diplomatic Corps accredited to the Holy See (8 January 2007): AAS 99 (2007), 73; Francis, Address to Participants of the 3rd Global Meeting of the Indigenous Peoples’ Forum of the International Fund for Agricultural Development (15 February 2017): AAS 109 (2017), 244-245.

[113] Final Document of the Second Session of the XVI Ordinary General Assembly of the Synod of Bishops (26 October 2024), 17.

[114] Cf. ibid. , 11.

[115] Cf. ibid. , 103-108.

[116] Cf. ibid., 100-101.

[117] Cf. Francis, Encyclical Letter Fratelli Tutti (3 October 2020), 94: AAS 112 (2020), 1001.

Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận

Bài viết liên quan

0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x