close

Anphongsô Liguori: Nhà giảng thuyết về Thiên Chúa đáng mến (2)

Ngày đăng: 18/07/2026 Lượt xem: 40 Chuyên mục: Gương các thánh
st alphonsus liguori statue 2

ANPHONGSÔ LIGUORI – Nhà giảng thuyết về Thiên Chúa đáng mến (2)

TERRENCE J. MORAN – Bản dịch Việt ngữ

Người viết văn

Anphongsô cũng có ảnh hưởng hình thành trên Công giáo thế kỷ XIX và XX qua các tác phẩm của ngài. Ngài chỉ bắt đầu viết như một sự nghiệp thứ hai; phần lớn các tác phẩm chính của ngài được viết sau tuổi năm mươi, trong những giây phút chắt chiu từ một đời sống bận rộn của một nhà thừa sai, một Bề trên tu trì, và sau này là một Giám mục. Anphongsô đã viết tất cả 111 tác phẩm, xuất hiện — mỗi năm nhiều cuốn — từ tuổi năm mươi cho tới khoảng mười năm trước khi ngài qua đời. Về độ dài, chúng trải dài từ những cuốn sách nhỏ cho tới bộ Thần Học Luân Lý (Theologia moralis) đồ sộ, vốn đã trải qua tám lần tái bản có sửa đổi. Anphongsô dự tính các tác phẩm của mình phục vụ hai mục đích: cung cấp tư liệu cho các nhà giảng thuyết, và huấn luyện thiêng liêng cho các tín hữu không biết chữ — những người có thể nghe tác phẩm được đọc lên. (Sự kiện này giải thích lối văn hay lặp lại của các tác phẩm.) Mỗi tác phẩm của Anphongsô đều được dự tính như một cuốn sách giáo khoa về cầu nguyện: chúng không nhắm để được đọc lướt cho hết cho bằng để được cầu nguyện xuyên qua. Mỗi phân đoạn của một tác phẩm khổ hạnh của ngài kết thúc bằng affetti e preghiere, “tâm tình và lời cầu”, mà độc giả cần được thúc đẩy đưa lên nhiều lần trong lúc đọc.

Các tác phẩm của Anphongsô là món ăn cơ bản của việc đọc sách thiêng liêng trong Giáo hội Công giáo từ ngày xuất bản cho tới Công đồng Vaticanô II. Tuyệt tác linh đạo của ngài, Thực hành lòng mến Chúa Giêsu Kitô (Pratica di amar Gesù Cristo, 1768), là một bài giải thích mở rộng bài ca đức mến của Thánh Phaolô trong 1 Côrintô 13. Nó diễn tả rất hay trực giác nền tảng của linh đạo Anphongsô: họ tự lừa dối mình khi nghĩ rằng sự thánh thiện hệ tại ở một đời sống khắc khổ, ở việc cầu nguyện, ở việc năng lãnh nhận các Bí tích, hay ở việc bố thí — không, sự thánh thiện là tình yêu.[1] Trong một thời đại mà linh đạo bình dân và việc thực hành bí tích chịu ảnh hưởng nặng của thuyết Giansen (Jansenism), thì linh đạo Anphongsô là một Tin Mừng giải phóng. Sự thánh thiện không hệ ở những chiến công siêu phàm về nhân đức, thậm chí cũng không hệ ở việc lãnh nhận các Bí tích — điều mà nhiều người không có cơ hội tiếp cận — mà là ở hoạt động nằm trong tầm với của mọi trái tim con người: yêu. Anphongsô đã bàn trong các tác phẩm của mình về nhiều khía cạnh của mầu nhiệm tình yêu Chúa được đổ tràn ra trong Đức Giêsu Kitô: mầu nhiệm Nhập Thể, mầu nhiệm Khổ Nạn, mầu nhiệm Thánh Thể. Bản văn Đàng Thánh Giá của ngài (1761) trở thành chuẩn mực trong thế giới Công giáo. Nhiều thế hệ người Công giáo trong các việc đạo đức Mùa Chay đã ngân vang điệp khúc dịu dàng của nó: “Lạy Chúa Giêsu, xin cho con yêu Chúa mãi mãi; xin làm nơi con điều Chúa muốn.” Cuốn Đại phương thế cầu nguyện (Del gran mezzo della preghiera, 1759) và các tác phẩm khác về cầu nguyện đã tinh luyện trực giác của ngài rằng Thiên Chúa muốn ơn cứu độ và sự thánh thiện cho mọi người, bởi vì Thiên Chúa ban cho mỗi người ơn cầu nguyện. Đối với Anphongsô, cầu nguyện là chọn lựa nền tảng của con người. Mọi ân sủng khác cần cho ơn cứu độ và sự thánh thiện đều tùy thuộc vào lòng trung thành với việc cầu nguyện.

Nghệ thuật và âm nhạc như dụng cụ loan báo Tin Mừng

Anphongsô cũng dùng nghệ thuật và âm nhạc như những khí cụ loan báo Tin Mừng. Ngài đã vẽ nhiều bức tranh về Chúa Giêsu và Đức Mẹ mà ngài sẽ dùng để khơi lên lòng đạo đức trong các tuần đại phúc. Hầu như không ngoại lệ, đôi bạn thánh này được vẽ không phải trong vẻ vương giả xa cách mà là trong y phục của những người nông dân bình thường. Một trong những bức tranh ấy cho thấy Đức Maria đội một chiếc nón rơm nông dân trên đầu, trong khi Mẹ trìu mến ngắm Chúa Giêsu chơi đùa với đàn chiên. Với các mục đồng ở Scala, hình ảnh ấy nói lên rất hùng hồn về một Thiên Chúa thực sự là Emmanuel — Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Anphongsô cũng lấy giai điệu của các bài hát dân ca nông dân và đặt lời đạo vào đó. Bài Tu scendi dalle stelle của ngài — “Ngài từ các vì sao ngự xuống” — cho đến nay vẫn là bài Thánh ca Giáng Sinh Ý phổ biến nhất.

Giám mục và những năm cuối đời

Chỉ sau nhiều lần từ chối và với sự miễn cưỡng lớn, Anphongsô mới để cho Tòa Thánh thuyết phục nhận chức Giám mục. Ngài được tấn phong Giám mục Giáo phận Sant’Agata dei Goti tại Rôma năm 1762 — chuyến đi duy nhất ngài thực hiện ra khỏi Napoli sau “cuộc xuất hành đến với người nghèo”. Ngài là một mẫu Giám mục theo tinh thần Trentô, và trong mười bốn năm làm Giám mục, ngài đã hiến mình cho lợi ích của dân, đặc biệt trong những thời kỳ đói kém nặng nề. Năm 1775, Tòa Thánh chấp thuận đơn từ chức Giám mục của ngài, và ngài lui về làng Pagani, trụ sở của Hội Dòng Chúa Cứu Thế. Trong những năm cuối đời, ngài bị hành hạ bởi bệnh tật. Đau đớn hơn nữa là kinh nghiệm chứng kiến Hội Dòng Chúa Cứu Thế bị chia đôi năm 1780 theo lệnh của Tòa Thánh, do hậu quả của một cuộc xung đột giữa Đức Giáo Hoàng và Vua Napoli. Anphongsô qua đời, bên cạnh các anh em Dòng, đúng lúc chuông đọc kinh Truyền Tin buổi trưa vang lên ngày 1 tháng 8 năm 1787.

Dự phóng thiêng liêng: chống lại thuyết Giansen

Không thể đánh giá đúng thiên tài của dự phóng thiêng liêng của Anphongsô nếu không hiểu tình trạng bị bỏ rơi thiêng liêng của những vùng đông đảo dân cư Napoli thế kỷ XVIII: các cơ cấu chính thức của Giáo hội không thể vươn tới họ, và linh đạo chính thức không chạm được đến họ. Người nghèo ở Napoli thế kỷ XVIII mang những đặc điểm chung của các nền văn hoá nghèo đói và bên lề: cảm nhận rằng những điều tốt lành trên đời là hữu hạn và khan hiếm; rằng các quyền lực thần linh thì hay đổi thay và phải được mua chuộc bằng các nghi thức phù chú; xác tín rằng các cơ cấu xã hội được tổ chức chống lại lợi ích tốt nhất của người nghèo. Đối lại với thế giới coi mọi điều tốt lành như bị hạn định ấy, Anphongsô rao giảng một ơn cứu chuộc dồi dào. (Khẩu hiệu ngài đặt cho Hội Dòng của mình chính là câu Thánh vịnh 130: “Copiosa apud eum redemptio” — “Ở nơi Người, ơn cứu chuộc chan chứa”.) Đối lại với một nền văn hoá đặt luân lý trên nền tảng danh dự và tủi hổ, Anphongsô công bố rằng mọi người đang ở trong một mối tương quan giao ước tình yêu với Đức Giêsu Kitô, và chính mối tương quan ấy là nguồn giá trị đích thực của con người. Đối với những người bị đẩy ra bên lề xã hội và Giáo hội, Anphongsô nuôi dưỡng việc hội nhập họ vào các cơ cấu hiện hữu, đồng thời kêu gọi các cơ cấu ấy thay đổi để đón nhận người bị bỏ rơi bên lề. Đối lại với những người tự coi mình là nạn nhân thụ động của lịch sử, Anphongsô cổ vũ việc phát triển con người như những chủ thể đạo đức. Nền thần học luân lý của ngài dựa trên tính ưu việt của lương tâm hướng đến điều thiện, ngay cả khi vì hoàn cảnh xã hội mà lương tâm ấy sai lạc.[2]

Lòng đạo đức bình dân và thực hành mục vụ tại Napoli thế kỷ XVIII bị nhuộm màu nặng nề bởi thuyết Giansen. Thuyết Giansen là một hiện tượng phức tạp, và cần cẩn trọng đừng biếm hoạ nó. Xét theo mức ảnh hưởng trên kinh nghiệm tôn giáo của người nông dân Napoli, thuyết Giansen cổ võ một hình ảnh về một Thiên Chúa xa cách, bận tâm về vinh quang và đặc quyền thần linh của mình. Ân sủng của Chúa được coi là hiếm hoi và chỉ dành cho một số ít được tuyển chọn. Thần học luân lý và thực hành mục vụ tiêu chuẩn đều mang dấu vết ảnh hưởng của Giansen: hoãn giải tội đến cả chục lần để hối nhân không mất đi lòng kính sợ trước sự cao cả của Chúa; Thánh Thể chủ yếu được nhìn như đối tượng thờ lạy hơn là như lương thực cho người lữ hành Kitô hữu; sự nghi ngại đối với cái mới trong thần học luân lý và việc luôn chiếu về bản văn Kinh Thánh, các Giáo Phụ, và các Giáo Luật như quy phạm cho mọi khúc mắc luân lý.

Qua kinh nghiệm mục vụ rộng lớn với những người nghèo và những người bị đẩy ra bên lề, Anphongsô đã nhìn thấy sự bất cập của nền thần học luân lý và thực hành mục vụ theo tinh thần Giansen đang thịnh hành. Chính ngài đã viết tác phẩm thần học chính thức đầu tiên của mình năm 1776 để trả lời cho gánh nặng mà tinh thần khắt khe kiểu Giansen đã đặt lên lương tâm người nghèo. Trong nhiều giáo phận, thói quen của người nông dân dùng câu “Đồ chết tiệt!” (Cursed be the dead!) như một cách bày tỏ sự bực tức được coi không chỉ là tội trọng mà còn là tội dành riêng cho tòa cao hơn, khiến phần đông dân cư gần như thường xuyên ở trong tình trạng tội trọng. Anphongsô đã vạch trần sự phi lý của kiểu lý luận luân lý ấy cùng những hậu quả tai hại về mục vụ của nó.[3]

Ngài rõ ràng loại bỏ một thứ linh đạo Giansen dành sự thánh thiện chỉ cho một nhóm ưu tuyển các nhà vô địch thiêng liêng. Đối với ngài, sự thánh thiện trên hết là câu đáp trả tự nhiên của trái tim con người khi tiếp xúc với Thiên Chúa chân thật, Đấng mà ngài thích gọi là “Thiên Chúa đáng mến”. Đối với Anphongsô, nếu người ta không yêu mến một Thiên Chúa tốt lành như thế, thì đó là vì họ chưa bao giờ thực sự gặp gỡ Ngài. Hành vi mục vụ đầu tiên đối với Anphongsô luôn là trình bày một bức tranh về sự khả ái và vẻ đẹp của Thiên Chúa sao cho có sức thu hút nhất đối với trí tưởng tượng con người.

Bốn nhịp kenosis: một thần học về tình yêu

Bản văn Anphongsô trích nhiều nhất để minh hoạ hoạt động của Thiên Chúa là Philípphê 2,7: “Người đã trút bỏ vinh quang mình”; sự kenosis, tình yêu tự trút bỏ, là kiểu diễn tả gói gọn chính bản tính Thiên Chúa. Ngài thường gọi Chúa là Iddio pazzo, “Thiên Chúa điên cuồng vì yêu”. Đối lại một thời đại tự hào mình là “Thế Kỷ Ánh Sáng” và “Thời Đại Lý Trí”, Anphongsô dám công bố một Thiên Chúa không phải là vị Toán Sư Thần Linh khuôn phép của phái Duy Thần (Deism), mà là một Đấng bị đam mê điên cuồng của tình yêu thôi thúc. Anphongsô đối lại một thứ linh đạo Giansen bắt con người phải cúi rạp mình trước uy nghi thần linh bằng hình ảnh một Thiên Chúa cúi rạp mình dưới chân các thụ tạo, khẩn nài tình yêu.

Thiên Chúa của Anphongsô trút bỏ chính mình vào lịch sử với mục đích thông truyền sự sống thần linh cho mỗi người không trừ một ai. Anphongsô đặt trên môi Thiên Chúa những lời đáng ghi nhớ này: “Bao lâu Ta đã yêu chính Ta, thì bấy lâu Ta đã yêu ngươi. Bao lâu Ta đã là Thiên Chúa, thì bấy lâu Ta đã yêu ngươi.”[4] Ngài nhìn kenosis của Thiên Chúa đi vào lịch sử nhân loại như có bốn nhịp chuyển động riêng biệt.

Thứ nhất, Thiên Chúa trút bỏ chính mình vào công trình tạo dựng, với hy vọng thu hút tình yêu con người bằng vẻ đẹp của vũ trụ thụ tạo. Anphongsô không chia sẻ chút nào sự nghi ngại của Giansen đối với thụ tạo và bản tính con người; ngài nhìn cả hai như những phản ánh vẻ đẹp thần linh.

Thiên Chúa không hài lòng chỉ với việc thu hút chúng ta từ bên ngoài. Nhịp thứ hai của kenosis thần linh là mầu nhiệm Nhập Thể, trong đó Thiên Chúa mặc lấy bản tính con người từ bên trong. Bài Thánh ca Giáng Sinh của Anphongsô, Tu scendi dalle stelle, là một khắc hoạ tuyệt vời nền thần học Nhập Thể của ngài. Ngài mời chúng ta ngước nhìn sự hoàn hảo đầy sao của bầu trời và biết rằng Thiên Chúa đã rời bỏ thế giới lạnh lẽo và hoàn hảo ấy để bước vào lịch sử nhân loại như một hài nhi. Thiên Chúa gần gũi như đứa trẻ sơ sinh mới đây của bạn, run rẩy vì lạnh và khóc đòi sữa. Các triết gia của Thời đại Ánh sáng muốn ta nhìn thấy Thiên Chúa trong sự hoàn hảo toán học của các vì sao; Anphongsô lại hướng chúng ta tìm thấy Chúa trong các thực tại của lịch sử nhân loại: đứa trẻ đói khát, cuộc vật lộn hằng ngày để mưu sinh.

Nhịp thứ ba của cuộc trút đổ thần linh là mầu nhiệm Khổ Nạn, trong đó Thiên Chúa gánh lấy đời sống con người ở chỗ yếu ớt và mong manh nhất. Ngòi bút của Anphongsô về mầu nhiệm Khổ Nạn tỉnh táo và tiết chế đối với thời đại của ngài: ngài chú tâm ít hơn đến các chi tiết thể lý ghê rợn của cuộc thương khó, và chú tâm nhiều hơn đến tình yêu vô song mà nó biểu lộ. Tuy vậy, ngài cũng mang tính đặc trưng của linh đạo thời đại mình ở chỗ ngài lưu tâm rất ít đến mầu nhiệm Phục Sinh. Đức Giêsu đang sống trong vinh quang, đối với Anphongsô, được tìm thấy trước hết trong Bí tích Thánh Thể.

Kenosis của Thiên Chúa lên tới đỉnh cao trong nhịp thứ tư — Bí tích Thánh Thể. Trong Bí tích Thánh Thể, tức là ngay tại khoảnh khắc rước lễ, hành động ngoạn mục thần linh, bằng đó Thiên Chúa đến kết hiệp với trái tim con người, đạt tới đỉnh điểm và sự thành toàn của mình. Giáo huấn của Anphongsô rõ ràng đối nghịch với thực hành Thánh Thể theo tinh thần Giansen: ngài khuyến khích rước lễ mỗi tuần cho những người biết cố gắng bình thường sống đời Kitô hữu, và ngay cả rước lễ mỗi ngày cho những người thuộc bất cứ bậc sống nào đang khao khát nên thánh. Chắc chắn ngài cổ vũ lòng sùng kính Thánh Thể, và một trong những tác phẩm đầu tiên và phổ biến nhất của ngài là cuốn Viếng Thánh Thể (Visite al SS. Sacramento, 1745). Ngay trong cuốn Viếng Thánh Thể, ngài luôn cho vào một lời “rước lễ thiêng liêng”, để lòng đạo đức Thánh Thể luôn quy hướng về việc rước lễ thực sự. Thần học Thánh Thể của ngài được diễn tả rất hay trong một bài Thánh ca khác của ngài, O quanto felici voi: ngài vẽ hình một người nông dân đang đứng nơi cửa nhà thờ, lần lượt trầm trồ vẻ đẹp và diễm phúc của các đồ trang trí bàn thờ, những đoá hoa, những ngọn nến, chiếc nhà tạm. Người nông dân kết luận: “Ôi, tôi còn diễm phúc hơn tất cả các bạn nhiều lắm, khi Đấng Yêu Dấu của tôi đến nằm trong lồng ngực tôi, như một chiên non dịu hiền.” Đối với Anphongsô, đẹp hơn nhiều so với mọi đồ trang trí nhà thờ là trái tim nghèo hèn nhất của con người, nơi cư ngụ đích thực nhất của Thiên Chúa.

Anphongsô tin rằng lịch sử con người không hệ tại trước hết ở cuộc vật lộn của con người để “về trời”, mà đúng hơn là ở câu chuyện của một Thiên Chúa tìm thấy thiên đàng nơi trái tim con người. “Thiên đàng của Ta là trái tim con người” — đó là những lời ngài đặt trên môi Chúa. Vì thế, đời sống thiêng liêng và đời sống luân lý là câu đáp trả bằng tình yêu đối với kinh nghiệm Thiên Chúa. Công bố Thiên Chúa là ai phải luôn đi trước lời giải thích tình yêu đòi buộc điều gì nơi ta. Anphongsô đã tố giác thực hành mục vụ Giansen — bắt đầu việc rao giảng Tin Mừng bằng lời giải thích luật luân lý — như là “công việc của ma quỷ”. Đối với ngài, một khi một con người đã gặp gỡ tình yêu Thiên Chúa, thì một đời sống thiện hảo là câu đáp trả gần như tất yếu.

Đức Maria và việc linh hướng

Mẫu mực câu đáp trả của con người trước sáng kiến thần linh là Đức Trinh Nữ Maria. Một trong những tác phẩm phổ biến nhất của Anphongsô là Vinh Quang Đức Maria (Le Glorie di Maria, 1750). Tuy Vinh Quang Đức Maria đã được tái bản nhiều lần trong nhiều ngôn ngữ, nó cũng thường được trưng dẫn như một thí dụ điển hình của một nền Thánh Mẫu học “tối đa” và có lẽ còn thái quá, vì Anphongsô chú trọng vào sự cần thiết phổ quát của việc Đức Mẹ chuyển cầu ân sủng. Ngài nôn nóng chứng minh rằng Đức Maria không chỉ là mẫu mực cho các Kitô hữu, mà còn là một sự hiện diện tích cực trong Giáo hội và trong thế giới, dùng ơn chuyển cầu của Mẹ để nâng đỡ người nghèo và các tội nhân. Anphongsô so sánh Đức Maria với hình ảnh bà Rút trong Kinh Thánh, người được ông Bôát cho phép theo sau các thợ gặt vào đồng lúa để nhặt lấy những bông họ bỏ lại (Rút 2). Như vậy, Đức Maria đi theo sau các thợ mục vụ trong Giáo hội và là dụng cụ cứu độ của Chúa cho những ai mà thừa tác vụ thông thường của Giáo hội không vươn tới được. Điều này đã được chính kinh nghiệm mục vụ của Anphongsô trong các tuần đại phúc xác nhận. Những tội nhân không bị lay chuyển bởi những lời hù dọa hỏa ngục thì lại bị khuấy động và biến đổi bởi bài giảng về Mẹ Thiên Chúa.

Tuy người nghèo và người bị bỏ rơi là đối tượng đặc biệt của mối quan tâm của Anphongsô và là thính giả trực tiếp nhất của linh đạo của ngài, ngài cũng dành sự lưu tâm đáng kể cho việc linh hướng những người đã tiến xa hơn trong đời sống thiêng liêng. Trong hàng trăm bức thư còn lại của Anphongsô, có một số lượng lớn là thư linh hướng cho các thành viên trong Hội Dòng của ngài và cả cho các nữ tu. Với một số nữ tu, ngài đã duy trì việc thư từ linh hướng qua nhiều năm.[5] Cuốn Praxis confessarii (1757) của ngài — một sách hướng dẫn giúp các linh mục thi hành thừa tác vụ giải tội — có một chương về việc linh hướng các linh hồn được gọi đến sự trọn lành. Giáo huấn của Anphongsô về các cấp cao hơn của cầu nguyện thì mang tính truyền thống và chịu ảnh hưởng nặng nề của linh đạo Thánh Têrêxa Avila. Điều đáng chú ý nhất không phải là nội dung của giáo huấn cho bằng giả thuyết mà Anphongsô đặt ra: rằng vị cha giải tội trung bình, trong việc thực hành bình thường thừa tác vụ của mình, có xác suất cao sẽ gặp những người cần được hướng dẫn về cầu nguyện chiêm niệm. Anphongsô cũng không coi việc linh hướng là đặc quyền riêng của thừa tác viên chức thánh. Ngài đã cho một trợ sĩ Dòng Chúa Cứu Thế, Thầy Gêrađô Majella, làm linh hướng, cố vấn và người tư vấn cho nhiều đan viện các nữ tu chiêm niệm. Anphongsô đặc biệt tài giỏi trong việc linh hướng những người bị bối rối lương tâm, một chứng bệnh khá phổ biến, xét bối cảnh Giansen thời ấy, và cũng là tình trạng chính Anphongsô đã phải vật lộn vào nhiều thời điểm trong đời. Ngài viết một tác phẩm về việc linh hướng những người bối rối, cuốn Quiete per le anime scrupolose (1751), và ngài đã kiên nhẫn và không mệt mỏi để trấn an mọi người rằng Thiên Chúa đáng mến ấy không bận tâm về những chuyện vụn vặt.

Ảnh hưởng lâu dài và ý nghĩa hôm nay

Sự phổ biến của linh đạo Anphongsô còn được nâng cao đáng kể nhờ việc ngài được phong Chân Phước năm 1816, được phong Hiển Thánh năm 1839, và hơn hết là nhờ việc ngài được tuyên phong Tiến Sĩ Hội Thánh năm 1871. Cho đến nay, chưa có ai sinh sau Anphongsô được tuyên phong Tiến Sĩ Hội Thánh, điều đó ban cho ngài một quyền uy nào đó như thầy dạy linh đạo của Giáo hội trong thế kỷ vừa qua. Con người và linh đạo của Anphongsô đã chịu một sự suy giảm uy tín trong thời kỳ canh tân sau Công đồng Vaticanô II, vì Công đồng dường như đã bác bỏ hết mọi điều ngài đại diện. Không thể tranh cãi rằng khuôn mặt Anphongsô Liguori đã in dấu vào Công giáo cận đại một cách quyết định. Nhà xã hội học Werner Stark đã chỉ ra Anphongsô và truyền thống của ngài như có ảnh hưởng ngang tầm với các phong trào Biển Đức và Phanxicô. Vào đầu thời kỳ cận đại, Giáo hội Công giáo Rôma đang chao đảo vì các hậu quả của Thời Đại Ánh Sáng và Cách mạng Pháp, có thể đã rơi vào

cái cạm bẫy kép cứ tái diễn — khuynh hướng đôi mất đi tính bao gồm quốc tế và xã hội; hướng đến chủ nghĩa dân tộc một bên và sự tập trung vào tầng lớp thượng lưu bên kia… Nếu tôn giáo có bất cứ liên hệ nào với cảm xúc, thì Thánh Anphongsô Liguori… đã thực hiện một cuộc tái sinh trọn vẹn cho cảm xúc trong tôn giáo.[6]

Anphongsô và phong trào mà ngài đại diện chịu trách nhiệm cho nhiều điều hơn là chỉ thành lập một trường phái linh đạo. Các ngài đã chiếm lĩnh trí tưởng tượng tôn giáo của nhiều thế hệ người Công giáo Rôma. Truyền thống linh đạo của Anphongsô chưa bao giờ nhận được sự chú ý đáng kể trong các nghiên cứu hàn lâm về linh đạo. Nhiều lịch sử linh đạo có tiếng đã không hề đề cập đến ngài. Thế nhưng dấu ấn của ngài trên đời sống thiêng liêng của người Công giáo bình thường lại thật sâu sắc. Việc năng lãnh nhận các Bí tích Hòa Giải và Thánh Thể, một truyền thống phong phú các việc đạo đức bình dân về Chúa Giêsu và Đức Mẹ, việc dùng cảm xúc trong cầu nguyện và bài hát: tất cả các yếu tố được coi là chuẩn mực trong thời kỳ tiền Công đồng đều mang dấu vết ảnh hưởng của Anphongsô Liguori.

Khi các truyền thống linh đạo Công giáo Rôma hướng đến trọng trách thông truyền một kinh nghiệm về Thiên Chúa cho thiên niên kỷ mới, linh đạo và tấm gương của Anphongsô Liguori có nhiều điều để cống hiến. Khi số các thừa tác viên chức thánh tiếp tục giảm sút, công trình của Anphongsô mang đến cho chúng ta một tấm gương đầy khích lệ về các cộng đoàn Kitô hữu vẫn triển nở trong sự vắng bóng các linh mục. Khi số người bị xa lạ hoá khỏi các cơ cấu Giáo hội gia tăng, ngài thách thức chúng ta khám phá những hình ảnh mới về Thiên Chúa — vừa nói với kinh nghiệm của những người bên lề, vừa khích lệ họ hoà nhập vào truyền thống Kitô giáo rộng lớn hơn. Trong khi chúng ta có thể cảm thấy lo lắng chính đáng trước sự hỗn loạn luân lý cuối thế kỷ XX, Anphongsô nhắc chúng ta rằng huấn giáo luân lý không hệ tại ở việc hô to hơn các quy luật luân lý đáng kính. Việc đào tạo lương tâm đích thực là một tiến trình tế nhị hơn nhiều và tốn nhiều thời giờ hơn nhiều. Nó đòi chúng ta phải quen thuộc với nỗi thống khổ của những người đang vật lộn để sinh tồn bên lề xã hội tan rã này cũng nhiều như với truyền thống luân lý của Giáo hội. Anphongsô nhắc chúng ta rằng linh đạo không những phải trung thành với Tin Mừng mà còn phải cuốn hút trí tưởng tượng và khuấy động con tim. Có lẽ vị đại ngôn sứ của thời chúng ta, Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII, đã ý thức về tất cả những điều này khi ngài viết:

Ôi Thánh Anphongsô, ngài là một vinh quang và một gương mẫu biết bao… Vị đại tiến sĩ và giám mục này… trong con người rất mực dấu yêu của ngài trưng bày tất cả những gì đáp ứng tốt nhất thiên tài của nước Ý — tỉnh táo, khôn ngoan, đầy trực giác lương thức và đồng thời đầy tự do, thực chất và chất thơ… Thánh Anphongsô không bao giờ già đi.[7]

* Bản dịch của Pt. Giuse Vũ Đức Trung, DCCT

[1]Alphonsus de Liguori, “The holy eucharist” trong The practice of the love of Jesus Christ, The complete works of Saint Alphonsus of Liguori, do Eugene Grimm CSsR chủ biên, tập 7, tr. 263.

[2]Về nền thần học lương tâm của Anphongsô và ảnh hưởng của nó trên thực hành mục vụ của ngài, xin xem Rey-Mermet, La morale selon Saint Alphonse de Liguori (Paris: Les Éditions du Cerf, 1987); và Marciano Vidal, Frente al rigorismo moral, benignidad pastoral (Madrid: Editorial PS, 1986).

[3]Xem Andreas Sampers, “Controversia quam S. Alphonsus sustinuit de maledictione mortuorum” trong Spicilegium Historicum Congregationis SS. Redemptoris 14 (1966), tr. 3–47.

[4]Practice of the love of Jesus Christ, tr. 264.

[5]Giuseppe Orlandi, “La Corrispondenza di S. Alfonso M. de Liguori dall’Epistolario al Carteggio” trong Spicilegium Historicum Congregationis SS. Redemptoris 36 và 37 (1988/1989), tr. 284–314.

[6]Werner Stark, The sociology of religion (New York: Fordham University Press, 1967), tr. 304–307.

[7]Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII có một linh hướng Dòng Chúa Cứu Thế là Cha Francesco Pittochi khi ngài còn là chủng sinh tại Rôma từ năm 1902 đến 1905, và một lần nữa vào các năm 1921–1922 khi ngài phục vụ như một linh mục tại Bộ Truyền Bá Đức Tin. Đoạn nhận định về Thánh Anphongsô này thuộc bài “Tưởng niệm Cha Francesco Pittochi”, được Đức Gioan XXIII viết nhân dịp Cha Pittochi qua đời năm 1922.

Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận

Bài viết liên quan

0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x