close

NHỮNG CÁI GIÁ TỒI TỆ CỦA MỘT TUỔI THƠ GẮN LIỀN VỚI ĐIỆN THOẠI.

Ngày đăng: 08/05/2026 Lượt xem: 48 Chuyên mục: Xã hội
687460037 10232705765574420 6163425748833777415 n

Môi trường mà trẻ em lớn lên ngày nay đang thù địch với sự phát triển của con người.

Tác giả: Jonathan Haidt.

Một điều gì đó đột ngột trở nên tồi tệ và khủng khiếp đối với thanh thiếu niên vào đầu những năm 2010. Đến nay, có lẽ bạn đã thấy các số liệu thống kê: Tỷ lệ trầm cảm và lo âu ở Hoa Kỳ – vốn khá ổn định trong những năm 2000 – đã tăng hơn 50% trong nhiều nghiên cứu từ năm 2010 đến 2019. Tỷ lệ tự tử tăng 48% ở thanh thiếu niên từ 10 đến 19 tuổi. Đối với các bé gái từ 10 đến 14 tuổi, con số này tăng 131%.

Vấn đề không chỉ giới hạn ở Mỹ: Những mô hình tương tự cũng xuất hiện vào cùng thời điểm ở Canada, Anh, Úc, New Zealand, các nước Bắc Âu và nhiều nơi khác. Theo nhiều thước đo ở nhiều quốc gia khác nhau, các thành viên của Thế hệ Z (sinh từ năm 1996 trở đi) đang phải chịu đựng sự lo âu, trầm cảm, tự hại và các chứng rối loạn liên quan ở mức độ cao hơn bất kỳ thế hệ nào khác mà chúng ta có dữ liệu.

Sự suy giảm sức khỏe tâm thần chỉ là một trong nhiều dấu hiệu cho thấy có điều gì đó đã đi chệch hướng. Sự cô đơn và tình trạng không có bạn bè ở thanh thiếu niên Mỹ bắt đầu tăng vọt vào khoảng năm 2012. Thành tích học tập cũng đi xuống. Theo “Bản báo cáo Quốc gia” (The Nation’s Report Card), điểm số môn đọc và toán của học sinh Mỹ bắt đầu giảm sau năm 2012, đảo ngược nhiều thập kỷ tăng trưởng chậm nhưng nhìn chung là ổn định. PISA, thước đo quốc tế chính về xu hướng giáo dục, cho thấy sự sụt giảm trong môn toán, đọc và khoa học đã xảy ra trên toàn cầu, cũng bắt đầu từ đầu những năm 2010.

Khi những thành viên lớn tuổi nhất của Gen Z bước vào độ tuổi cuối 20, những rắc rối của họ tiếp tục kéo dài đến tuổi trưởng thành. Thanh niên đang ít hẹn hò hơn, ít quan hệ tình dục hơn và tỏ ra ít quan tâm đến việc sinh con hơn so với các thế hệ trước. Họ có xu hướng sống cùng cha mẹ nhiều hơn. Họ ít có khả năng tìm được việc làm khi còn ở tuổi vị thành niên, và các nhà quản lý nói rằng họ khó làm việc cùng hơn. Nhiều xu hướng trong số này đã bắt đầu từ các thế hệ trước, nhưng hầu hết đều tăng tốc với Gen Z.

Các cuộc khảo sát cho thấy các thành viên của Gen Z cũng nhút nhát và e ngại rủi ro hơn các thế hệ trước, và sự e ngại rủi ro có thể khiến họ bớt tham vọng hơn. Trong một cuộc phỏng vấn vào tháng 5 năm ngoái, nhà đồng sáng lập OpenAI Sam Altman và nhà đồng sáng lập Stripe Patrick Collison lưu ý rằng, lần đầu tiên kể từ những năm 1970, không có doanh nhân xuất chúng nào ở Thung lũng Silicon dưới 30 tuổi. “Có điều gì đó thực sự đã đi sai hướng,” Altman nói. Trong một ngành công nghiệp nổi tiếng là trẻ trung, ông đã bối rối trước sự vắng bóng đột ngột của những nhà sáng lập vĩ đại ở độ tuổi 20.

Tất nhiên, các thế hệ không phải là một khối đồng nhất. Nhiều người trẻ đang phát triển rất tốt. Tuy nhiên, nhìn chung, Gen Z đang có sức khỏe tâm thần kém và tụt hậu so với các thế hệ trước trên nhiều thước đo quan trọng. Và nếu một thế hệ đang hoạt động kém hiệu quả – nếu họ lo âu, trầm cảm nhiều hơn và bắt đầu lập gia đình, xây dựng sự nghiệp cũng như các công ty quan trọng với tỷ lệ thấp hơn đáng kể so với các thế hệ trước – thì hậu quả về mặt xã hội học và kinh tế đối với toàn xã hội sẽ vô cùng sâu sắc.

Điều gì đã xảy ra vào đầu những năm 2010 làm thay đổi sự phát triển của thanh thiếu niên và làm sức khỏe tâm thần tồi tệ hơn?. Có vô số giả thuyết, nhưng thực tế là những xu hướng tương tự được tìm thấy ở nhiều quốc gia trên toàn thế giới có nghĩa là các sự kiện và xu hướng chỉ xảy ra ở Mỹ không thể là nguyên nhân chính.

Tôi nghĩ câu trả lời có thể được phát biểu một cách đơn giản, mặc dù tâm lý học đằng sau nó rất phức tạp: Đó là những năm mà thanh thiếu niên ở các nước giàu có đổi điện thoại nắp gập lấy điện thoại thông minh và chuyển phần lớn đời sống xã hội của họ lên mạng trực tuyến – đặc biệt là lên các nền tảng mạng xã hội được thiết kế để tạo tính lan truyền và gây nghiện. Khi những người trẻ tuổi bắt đầu mang theo toàn bộ internet trong túi quần, sẵn sàng phục vụ họ cả ngày lẫn đêm, điều đó đã làm thay đổi trải nghiệm hàng ngày và lộ trình phát triển của họ trên mọi phương diện. Tình bạn, hẹn hò, tình dục, tập thể dục, giấc ngủ, học tập, chính trị, động lực gia đình, bản sắc – tất cả đều bị ảnh hưởng. Cuộc sống cũng thay đổi nhanh chóng đối với những trẻ em nhỏ tuổi hơn, khi chúng bắt đầu được tiếp cận với điện thoại thông minh của cha mẹ và sau đó là có iPad, máy tính xách tay và thậm chí cả điện thoại thông minh của riêng mình trong suốt thời tiểu học.

Là một nhà tâm lý học xã hội đã nghiên cứu lâu năm về sự phát triển đạo đức và xã hội, tôi đã tham gia vào các cuộc tranh luận về tác động của công nghệ kỹ thuật số trong nhiều năm. Thông thường, các câu hỏi khoa học được đặt ra khá hẹp để dễ dàng giải quyết bằng dữ liệu. Ví dụ, những thanh thiếu niên sử dụng nhiều mạng xã hội hơn có mức độ trầm cảm cao hơn không?. Việc sử dụng điện thoại thông minh ngay trước khi đi ngủ có cản trở giấc ngủ không?. Câu trả lời cho những câu hỏi này thường là có, mặc dù mức độ của mối liên hệ thường nhỏ về mặt thống kê, điều này đã khiến một số nhà nghiên cứu kết luận rằng những công nghệ mới này không phải là nguyên nhân gây ra sự gia tăng khổng lồ về bệnh tâm thần bắt đầu vào đầu những năm 2010.

Nhưng trước khi có thể đánh giá bằng chứng về bất kỳ một con đường gây hại tiềm năng nào, chúng ta cần lùi lại và đặt một câu hỏi rộng hơn: Tuổi thơ – bao gồm cả tuổi vị thành niên – là gì, và nó đã thay đổi như thế nào khi điện thoại thông minh trở thành trung tâm của nó?. Nếu chúng ta có cái nhìn toàn diện hơn về tuổi thơ là gì và những gì trẻ nhỏ, trẻ vị thành niên và thiếu niên cần làm để trưởng thành thành những người lớn có năng lực, bức tranh sẽ trở nên rõ ràng hơn nhiều. Hóa ra, cuộc sống dựa trên điện thoại làm thay đổi hoặc cản trở rất nhiều quá trình phát triển.

Sự xâm nhập của điện thoại thông minh và mạng xã hội không phải là những thay đổi duy nhất làm biến dạng tuổi thơ. Có một bối cảnh quan trọng, bắt đầu từ tận những năm 1980, khi chúng ta bắt đầu tước đoạt một cách có hệ thống sự tự do, hoạt động vui chơi không giám sát, trách nhiệm và cơ hội chấp nhận rủi ro của trẻ em và thanh thiếu niên, những thứ vốn thúc đẩy năng lực, sự trưởng thành và sức khỏe tâm thần. Nhưng sự thay đổi trong tuổi thơ đã tăng tốc vào đầu những năm 2010, khi một thế hệ vốn đã bị tước đoạt sự độc lập bị lôi kéo vào một vũ trụ ảo mới có vẻ an toàn với các bậc cha mẹ nhưng thực tế, ở nhiều khía cạnh, lại nguy hiểm hơn thế giới thực.

Luận điểm của tôi là tuổi thơ dựa trên điện thoại hình thành vào khoảng 12 năm trước đang làm cho những người trẻ tuổi đổ bệnh và cản trở tiến trình phát triển của họ để trở thành những người trưởng thành hưng thịnh. Chúng ta cần một sự điều chỉnh văn hóa mạnh mẽ, và chúng ta cần nó ngay bây giờ.

1. Sự Suy Giảm Của Việc Vui Chơi Và Tính Tự Lập

Bộ não con người đặc biệt lớn so với các loài linh trưởng khác, và tuổi thơ của con người cũng kéo dài một cách bất thường, nhằm cho phép những bộ não lớn này có thời gian để kết nối bên trong một nền văn hóa cụ thể. Bộ não của một đứa trẻ đã đạt 90% kích thước của người trưởng thành vào khoảng 6 tuổi. 10 hoặc 15 năm tiếp theo là để học các chuẩn mực và thành thạo các kỹ năng – thể chất, phân tích, sáng tạo và xã hội. Khi trẻ em và thanh thiếu niên tìm kiếm trải nghiệm và thực hành nhiều hành vi khác nhau, các khớp thần kinh và tế bào thần kinh được sử dụng thường xuyên sẽ được giữ lại trong khi những cái ít được sử dụng sẽ biến mất. Các tế bào thần kinh cùng phát xung sẽ kết nối với nhau, như các nhà nghiên cứu não bộ thường nói.

Sự phát triển não bộ đôi khi được cho là “kỳ vọng trải nghiệm”, bởi vì các phần cụ thể của não bộ thể hiện tính dẻo (plasticity) cao hơn trong những giai đoạn của cuộc đời khi não bộ của một loài động vật có thể “kỳ vọng” có được những loại trải nghiệm nhất định. Bạn có thể thấy điều này ở những chú ngỗng con, chúng sẽ in dấu (imprint) lên bất kỳ vật thể nào có kích thước bằng ngỗng mẹ di chuyển gần chúng ngay sau khi nở. Bạn có thể thấy điều đó ở trẻ em, những người có khả năng học ngôn ngữ nhanh chóng và nói theo giọng bản địa, nhưng chỉ qua giai đoạn đầu của tuổi dậy thì; sau đó, rất khó để học một ngôn ngữ và phát âm giống người bản xứ. Cũng có một số bằng chứng về giai đoạn nhạy cảm đối với việc học hỏi văn hóa nói chung. Trẻ em Nhật Bản dành vài năm ở California vào những năm 1970 chỉ cảm thấy “giống người Mỹ” trong bản sắc và cách tương tác nếu chúng theo học các trường của Mỹ trong vài năm từ 9 đến 15 tuổi. Nếu chúng rời đi trước 9 tuổi, sẽ không có tác động lâu dài. Nếu đến năm 15 tuổi chúng mới đến Mỹ, thì đã quá muộn; chúng sẽ không thể có cảm giác giống người Mỹ.

Tuổi thơ của con người là một quá trình học việc văn hóa kéo dài với những nhiệm vụ khác nhau ở các độ tuổi khác nhau cho đến hết tuổi dậy thì. Khi nhìn nhận theo cách này, chúng ta có thể xác định các yếu tố thúc đẩy hoặc cản trở các hình thức học tập phù hợp ở mỗi độ tuổi. Đối với trẻ em ở mọi lứa tuổi, một trong những động lực học tập mạnh mẽ nhất là khát khao mãnh liệt được vui chơi. Vui chơi là công việc của tuổi thơ, và tất cả động vật có vú non đều có chung một nhiệm vụ: kết nối não bộ của chúng bằng cách chơi đùa mạnh mẽ và thường xuyên, thực hành các động tác và kỹ năng mà chúng sẽ cần khi trưởng thành. Mèo con sẽ chơi đùa vồ lấy bất cứ thứ gì trông giống đuôi chuột. Trẻ em sẽ chơi các trò chơi như đuổi bắt, hay cá mập và cá tuế, giúp chúng thực hành cả kỹ năng săn mồi và kỹ năng trốn thoát khỏi kẻ săn mồi. Thanh thiếu niên sẽ chơi các môn thể thao với cường độ cao hơn, và sẽ đưa sự vui đùa vào các tương tác xã hội của chúng – tán tỉnh, trêu chọc và tạo ra những trò đùa nội bộ gắn kết bạn bè lại với nhau. Hàng trăm nghiên cứu trên chuột non, khỉ và con người cho thấy động vật có vú non muốn chơi, cần chơi và sẽ bị suy yếu về mặt xã hội, nhận thức và cảm xúc khi chúng bị tước đoạt việc vui chơi.

Một khía cạnh quan trọng của việc vui chơi là việc chấp nhận rủi ro về mặt thể chất. Trẻ em và thanh thiếu niên phải chấp nhận rủi ro và thất bại – thường là trong môi trường nơi sự thất bại không phải trả giá quá đắt. Đây là cách chúng mở rộng khả năng, vượt qua nỗi sợ hãi, học cách ước tính rủi ro và học cách hợp tác để đối mặt với những thách thức lớn hơn sau này. Khả năng bị thương luôn hiện hữu khi chạy nhảy, khám phá, đánh nhau giả, hoặc vướng vào một cuộc xung đột thực sự với một nhóm khác làm tăng thêm yếu tố hồi hộp, và những trò chơi cảm giác mạnh dường như là loại hình hiệu quả nhất để vượt qua sự lo âu thời thơ ấu và xây dựng năng lực xã hội, cảm xúc và thể chất. Khát khao rủi ro và sự hồi hộp tăng lên trong những năm tháng thiếu niên, khi sự thất bại có thể mang lại những hậu quả nghiêm trọng hơn. Trẻ em ở mọi lứa tuổi cần tự chọn rủi ro mà chúng sẵn sàng đối mặt tại một thời điểm nhất định. Những người trẻ bị tước đoạt cơ hội chấp nhận rủi ro và khám phá độc lập, trung bình, sẽ phát triển thành những người lớn lo âu và e ngại rủi ro hơn.

Tuổi thơ và tuổi vị thành niên của con người tiến hóa ở ngoài trời, trong một thế giới vật lý đầy rẫy hiểm nguy và cơ hội. Các hoạt động trung tâm của nó – vui chơi, khám phá và giao tiếp xã hội mãnh liệt – phần lớn không bị người lớn giám sát, cho phép trẻ em tự đưa ra quyết định, tự giải quyết xung đột và chăm sóc lẫn nhau. Những cuộc phiêu lưu và nghịch cảnh được chia sẻ cùng nhau đã gắn kết những người trẻ tuổi vào các cụm tình bạn bền chặt, trong đó chúng làm chủ các động lực xã hội của các nhóm nhỏ, điều này chuẩn bị cho chúng đối phó với những thách thức lớn hơn và các nhóm lớn hơn sau này.

Và rồi chúng ta đã thay đổi tuổi thơ.

Những thay đổi bắt đầu một cách chậm chạp vào cuối những năm 1970 và 1980, trước khi có internet, khi nhiều bậc cha mẹ ở Mỹ ngày càng sợ rằng con cái họ sẽ bị làm hại hoặc bắt cóc nếu không được giám sát. Những tội ác như vậy luôn vô cùng hiếm gặp, nhưng chúng lại trở nên lớn lao hơn trong tâm trí các bậc cha mẹ, một phần là do mức độ tội phạm đường phố gia tăng kết hợp với sự xuất hiện của truyền hình cáp, cho phép đưa tin suốt ngày đêm về các vụ mất tích trẻ em. Sự suy giảm chung về vốn xã hội – mức độ mà mọi người biết và tin tưởng hàng xóm cũng như các thể chế của họ – đã làm trầm trọng thêm nỗi sợ hãi của phụ huynh. Trong khi đó, sự cạnh tranh ngày càng tăng trong việc tuyển sinh đại học đã khuyến khích các hình thức nuôi dạy con cái chuyên sâu hơn. Vào những năm 1990, các bậc cha mẹ Mỹ bắt đầu kéo con cái vào nhà hoặc khăng khăng rằng các buổi chiều phải được dành cho các hoạt động ngoại khóa do người lớn điều hành. Vui chơi tự do, khám phá độc lập và thời gian tụ tập của tuổi teen đã suy giảm.

Trong những thập kỷ gần đây, việc nhìn thấy những đứa trẻ chơi ngoài trời mà không có người giám sát trở nên mới mẻ đến mức khi phát hiện một đứa trẻ tự chơi ở ngoài, một số người lớn cảm thấy có trách nhiệm phải gọi cảnh sát. Năm 2015, Trung tâm Nghiên cứu Pew phát hiện ra rằng trung bình các bậc cha mẹ tin rằng trẻ em phải ít nhất 10 tuổi mới được chơi trước nhà mà không cần giám sát, và trẻ em phải đủ 14 tuổi trước khi được phép đến công viên công cộng một mình. Hầu hết chính những bậc cha mẹ này đã từng tận hưởng những giờ phút vui chơi ngoài trời vui vẻ và không có sự giám sát khi mới 7 hoặc 8 tuổi.

Nhưng sự bảo vệ quá mức chỉ là một phần của câu chuyện. Sự chuyển đổi từ một tuổi thơ độc lập hơn được tạo điều kiện bởi những cải tiến đều đặn trong công nghệ kỹ thuật số, khiến việc những người trẻ dành nhiều thời gian ở nhà, ở trong phòng và ở một mình trở nên dễ dàng và hấp dẫn hơn nhiều. Cuối cùng, các công ty công nghệ đã có quyền tiếp cận trẻ em 24/7. Họ phát triển các hoạt động ảo thú vị, được thiết kế kỹ thuật để tạo ra “sự tương tác”, những thứ hoàn toàn không giống những trải nghiệm thực tế mà não bộ trẻ em được tiến hóa để đón nhận.

2. Thế Giới Ảo Đổ Bộ Trong Hai Làn Sóng

Internet, thứ hiện đang thống trị cuộc sống của người trẻ tuổi, đã đến trong hai làn sóng công nghệ liên kết. Làn sóng đầu tiên ít gây hại cho thế hệ Millennials. Làn sóng thứ hai đã nuốt chửng hoàn toàn thế hệ Gen Z.

Làn sóng đầu tiên đổ bộ vào những năm 1990 với sự ra đời của truy cập internet quay số (dial-up), khiến máy tính cá nhân trở nên hữu ích cho những thứ ngoài việc xử lý văn bản và các trò chơi cơ bản. Đến năm 2003, 55% hộ gia đình Mỹ đã có máy tính kết nối internet (tốc độ chậm). Tỷ lệ trầm cảm, cô đơn ở thanh thiếu niên và các thước đo khác về sức khỏe tâm thần kém đã không tăng trong làn sóng đầu tiên này. Nếu có, chúng còn giảm đi một chút. Thanh thiếu niên Millennials (sinh từ 1981 đến 1995), những người đầu tiên bước qua tuổi dậy thì với khả năng truy cập internet, trung bình khỏe mạnh về tâm lý và hạnh phúc hơn so với các anh chị em lớn tuổi hoặc cha mẹ của họ thuộc Thế hệ X (sinh từ 1965 đến 1980).

Làn sóng thứ hai bắt đầu trỗi dậy vào những năm 2000, mặc dù toàn bộ sức mạnh của nó chưa ập đến cho đến đầu những năm 2010. Nó bắt đầu một cách khá vô hại với sự ra đời của các nền tảng mạng xã hội giúp mọi người kết nối với bạn bè. Đăng tải và chia sẻ nội dung trở nên dễ dàng hơn rất nhiều với các trang như Friendster (ra mắt 2003), Myspace (2003) và Facebook (2004).

Thanh thiếu niên đã đón nhận mạng xã hội ngay sau khi nó ra mắt, nhưng thời gian họ có thể dành cho các trang web này bị hạn chế trong những năm đầu đó vì chúng chỉ có thể được truy cập từ máy tính, thường là máy tính gia đình ở phòng khách. Người trẻ không thể truy cập mạng xã hội (và phần còn lại của internet) từ xe buýt trường học, trong giờ học, hoặc trong lúc đi chơi với bạn bè ở ngoài trời. Nhiều thanh thiếu niên vào đầu đến giữa những năm 2000 có điện thoại di động, nhưng đây là những chiếc điện thoại cơ bản (nhiều chiếc là điện thoại nắp gập) không có kết nối internet. Việc gõ chữ trên chúng rất khó khăn – chúng chỉ có các phím số. Điện thoại cơ bản là công cụ giúp Millennials gặp gỡ trực tiếp hoặc nói chuyện với nhau theo kiểu một đối một. Tôi chưa thấy bằng chứng nào cho thấy điện thoại di động cơ bản gây hại cho sức khỏe tâm thần của Millennials.

Mãi cho đến khi iPhone ra đời (2007), App Store (2008), và internet tốc độ cao (tiếp cận 50% gia đình Mỹ vào năm 2007) cùng sự chuyển hướng tương ứng sang thiết bị di động của nhiều nhà cung cấp mạng xã hội, trò chơi điện tử và nội dung khiêu dâm, thanh thiếu niên mới có thể dành gần như mọi khoảnh khắc thức giấc để trực tuyến. Sự cộng hưởng phi thường giữa những phát minh này chính là thứ đã thúc đẩy làn sóng công nghệ thứ hai. Năm 2011, chỉ 23% thanh thiếu niên có điện thoại thông minh. Đến năm 2015, con số đó đã tăng lên 73%, và một phần tư thanh thiếu niên cho biết họ trực tuyến “gần như liên tục”. Các em nhỏ của họ ở trường tiểu học thường không có điện thoại thông minh riêng, nhưng sau khi ra mắt vào năm 2010, iPad đã nhanh chóng trở thành một món đồ thiết yếu trong cuộc sống hàng ngày của trẻ nhỏ. Chính trong khoảng thời gian ngắn ngủi này, từ năm 2010 đến năm 2015, tuổi thơ ở Mỹ (và nhiều quốc gia khác) đã được định hình lại thành một hình thức tĩnh tại, đơn độc, ảo và không tương thích với sự phát triển lành mạnh của con người.

3. Sự Lạc Quan Về Công Nghệ Và Sự Ra Đời Của Tuổi Thơ Dựa Trên Điện Thoại

Tuổi thơ dựa trên điện thoại được tạo ra bởi làn sóng thứ hai đó – bao gồm không chỉ điện thoại thông minh, mà mọi loại thiết bị kết nối internet, như máy tính bảng, máy tính xách tay, máy chơi game và đồng hồ thông minh – đã đến vào gần cuối một thời kỳ đầy lạc quan về công nghệ kỹ thuật số. Internet bước vào cuộc sống của chúng ta vào giữa những năm 1990, ngay sau khi Liên Xô sụp đổ. Vào cuối thập kỷ đó, người người tin rằng web sẽ là đồng minh của nền dân chủ và là kẻ kết liễu các bạo chúa. Khi con người được kết nối với nhau và với tất cả thông tin trên thế giới, làm sao bất kỳ nhà độc tài nào có thể đàn áp họ?.

Vào những năm 2000, Thung lũng Silicon và những phát minh thay đổi thế giới của nó là nguồn tự hào và phấn khích ở Mỹ. Những người trẻ thông minh và tham vọng trên khắp thế giới muốn chuyển đến Bờ Tây để trở thành một phần của cuộc cách mạng kỹ thuật số. Những người sáng lập các công ty công nghệ như Steve Jobs và Sergey Brin được ca ngợi như những vị thần, hay ít nhất là như những Prometheus hiện đại, mang đến cho con người những sức mạnh siêu nhiên. Mùa xuân Ả Rập nở rộ vào năm 2011 với sự trợ giúp của các nền tảng xã hội phi tập trung, bao gồm Twitter và Facebook. Khi các học giả và doanh nhân nói về sức mạnh của mạng xã hội trong việc biến đổi xã hội, nó không có vẻ gì là một lời tiên tri đen tối.

Bạn phải đặt mình trở lại khoảng thời gian đầy hưng phấn này để hiểu tại sao người lớn lại dễ dàng đồng thuận với sự chuyển đổi nhanh chóng của tuổi thơ. Ngay cả khi đó, nhiều bậc cha mẹ đã có những lo ngại về những gì con cái họ đang làm trên mạng, đặc biệt là vì khả năng của internet trong việc đưa trẻ em tiếp xúc với người lạ. Nhưng cũng có rất nhiều sự hào hứng về những mặt tích cực của thế giới kỹ thuật số mới này. Nếu máy tính và internet là tiên phong của sự tiến bộ, và nếu những người trẻ tuổi – thường được gọi là “người bản địa kỹ thuật số” – sẽ sống cuộc đời gắn liền với những công nghệ này, vậy tại sao không cho chúng một khởi đầu sớm?. Tôi nhớ cảm giác thích thú thế nào khi thấy cậu con trai 2 tuổi của mình làm chủ giao diện chạm và vuốt trên chiếc iPhone đầu tiên của tôi vào năm 2008. Tôi tưởng như mình có thể thấy các nơ-ron của cậu bé được kết nối nhanh hơn nhờ vào sự kích thích mà thiết bị mang lại cho não bộ, so với sự thụ động khi xem ti vi hoặc sự chậm chạp khi xếp các khối gỗ. Tôi nghĩ tôi có thể thấy triển vọng nghề nghiệp tương lai của cậu bé đang được cải thiện.

Các thiết bị màn hình cảm ứng cũng là một cứu cánh cho các bậc cha mẹ luôn bận rộn. Nhiều người trong chúng ta phát hiện ra rằng chúng ta có thể tận hưởng sự yên bình ở nhà hàng, trên những chuyến đi ô tô đường dài, hoặc ở nhà khi đang nấu bữa tối hay trả lời email nếu chúng ta chỉ cần đưa cho con cái thứ chúng muốn nhất: điện thoại thông minh và máy tính bảng của chúng ta. Chúng ta thấy mọi người khác cũng đang làm vậy và cho rằng điều đó chắc hẳn là ổn.

Điều tương tự cũng xảy ra đối với những đứa trẻ lớn tuổi hơn, khao khát được tham gia cùng bạn bè trên các nền tảng mạng xã hội, nơi độ tuổi tối thiểu để mở tài khoản được luật pháp quy định là 13, mặc dù chưa có nghiên cứu nào được thực hiện để xác lập sự an toàn của những sản phẩm này đối với trẻ vị thành niên. Vì các nền tảng đã không làm gì (và vẫn không làm gì) để xác minh độ tuổi khai báo của những người nộp đơn đăng ký tài khoản mới, bất kỳ đứa trẻ 10 tuổi nào cũng có thể mở nhiều tài khoản mà không cần sự cho phép hoặc hay biết của cha mẹ, và nhiều đứa trẻ đã làm như vậy. Facebook và sau đó là Instagram đã trở thành những nơi mà nhiều học sinh lớp sáu và lớp bảy thường xuyên tụ tập và giao lưu. Nếu cha mẹ có phát hiện ra những tài khoản này thì đã quá muộn. Không ai muốn con mình bị cô lập và cô đơn, nên cha mẹ hiếm khi ép con cái đóng tài khoản.

Chúng ta đã không hề biết mình đang làm gì.

4. Cái Giá Đắt Của Tuổi Thơ Dựa Trên Điện Thoại

Trong cuốn Walden, bài suy ngẫm năm 1854 của ông về lối sống đơn giản, Henry David Thoreau đã viết: “Cái giá của một thứ là lượng… cuộc đời được yêu cầu để đánh đổi lấy nó, ngay lập tức hoặc về lâu dài.”. Đó là một công thức tinh tế về những gì các nhà kinh tế học sau này gọi là chi phí cơ hội của bất kỳ lựa chọn nào – tất cả những thứ bạn không còn có thể làm với tiền bạc và thời gian của mình khi bạn đã cam kết chúng cho một việc khác. Vì vậy, điều quan trọng là chúng ta phải nắm được chính xác thiết bị của một người trẻ đang lấy đi bao nhiêu phần thời gian trong ngày của họ.

Những con số thật khó tin. Dữ liệu gần đây nhất của Gallup cho thấy thanh thiếu niên Mỹ dành khoảng năm giờ mỗi ngày chỉ riêng cho các nền tảng mạng xã hội (bao gồm cả việc xem video trên TikTok và YouTube). Thêm vào tất cả các hoạt động khác trên điện thoại và màn hình, con số này tăng lên đâu đó từ bảy đến chín giờ mỗi ngày, trung bình. Các con số này thậm chí còn cao hơn ở các gia đình cha/mẹ đơn thân và thu nhập thấp, cũng như ở các gia đình người da đen, người gốc Tây Ban Nha và người Mỹ bản địa.

Những con số rất cao này không bao gồm thời gian ngồi trước màn hình cho trường học hoặc bài tập về nhà, chúng cũng không bao gồm toàn bộ thời gian thanh thiếu niên chỉ chú ý một phần vào các sự kiện trong thế giới thực trong khi nghĩ về những gì họ đang bỏ lỡ trên mạng xã hội hoặc chờ điện thoại báo tin nhắn. Pew báo cáo rằng vào năm 2022, một phần ba thanh thiếu niên cho biết họ trực tuyến trên một trong những trang mạng xã hội lớn “gần như liên tục,” và gần một nửa cũng nói điều tương tự đối với internet nói chung. Đối với những người sử dụng quá nhiều này, gần như mọi giờ thức giấc đều là một giờ bị thu hút, một phần hoặc toàn bộ, bởi thiết bị của họ.

Theo lời của Thoreau, bao nhiêu phần cuộc sống đang bị đánh đổi cho ngần ấy thời gian dán mắt vào màn hình?. Có thể nói, hầu hết cuộc sống. Mọi thứ khác trong ngày của một thanh thiếu niên phải bị ép lại hoặc loại bỏ hoàn toàn để nhường chỗ cho lượng lớn nội dung được tiêu thụ, và cho hàng trăm “bạn bè,” “người theo dõi,” và các kết nối mạng khác phải được phục vụ bằng tin nhắn, bài đăng, bình luận, lượt thích, snap và tin nhắn trực tiếp. Gần đây tôi đã khảo sát sinh viên của mình tại NYU, và hầu hết họ đều báo cáo rằng điều đầu tiên họ làm khi mở mắt vào buổi sáng là kiểm tra tin nhắn, tin nhắn trực tiếp và bảng tin mạng xã hội. Đó cũng là việc cuối cùng họ làm trước khi nhắm mắt vào ban đêm. Và đó là một phần rất lớn những gì họ làm ở khoảng giữa.

Khoảng thời gian thanh thiếu niên dành cho việc ngủ đã giảm đi vào đầu những năm 2010, và nhiều nghiên cứu gắn trực tiếp việc mất ngủ với việc sử dụng các thiết bị vào giờ đi ngủ, đặc biệt là khi chúng được sử dụng để cuộn xem mạng xã hội. Việc tập thể dục cũng giảm, điều này thật đáng tiếc vì tập thể dục, giống như giấc ngủ, cải thiện sức khỏe cả thể chất lẫn tinh thần. Việc đọc sách đã suy giảm trong nhiều thập kỷ, bị gạt sang một bên bởi các giải pháp kỹ thuật số thay thế, nhưng sự suy giảm đó, giống như bao thứ khác, đã tăng tốc vào đầu những năm 2010. Với các chương trình giải trí thụ động luôn có sẵn, tâm trí của thanh thiếu niên có lẽ ít đi lang thang hơn trước đây; sự suy ngẫm và trí tưởng tượng có thể được xếp vào danh sách những thứ bị cắt giảm hoặc loại bỏ.

Nhưng có lẽ cái giá tàn khốc nhất của tuổi thơ dựa trên điện thoại mới này là sự sụp đổ của thời gian dành cho việc tương tác trực tiếp với người khác. Một nghiên cứu về cách người Mỹ sử dụng thời gian cho thấy, trước năm 2010, những người trẻ tuổi (15 đến 24 tuổi) báo cáo rằng họ dành nhiều thời gian hơn cho bạn bè (khoảng hai giờ mỗi ngày, trung bình, không tính thời gian cùng nhau ở trường) so với người lớn tuổi (chỉ dành 30 đến 60 phút với bạn bè). Thời gian dành cho bạn bè bắt đầu giảm đối với những người trẻ tuổi vào những năm 2000, nhưng sự sụt giảm này đã tăng tốc vào những năm 2010, trong khi hầu như không thay đổi đối với những người lớn tuổi. Đến năm 2019, thời gian dành cho bạn bè của người trẻ đã giảm xuống chỉ còn 67 phút mỗi ngày. Hóa ra, Gen Z đã thực hiện giãn cách xã hội trong nhiều năm và hầu như đã hoàn tất dự án này vào thời điểm COVID-19 tấn công.

Bạn có thể nghi ngờ về tầm quan trọng của sự sụt giảm này. Rốt cuộc, chẳng phải phần lớn thời gian trực tuyến này được dành để tương tác với bạn bè qua tin nhắn, mạng xã hội và trò chơi điện tử nhiều người chơi sao?. Thế chẳng phải cũng tốt như vậy sao?.

Một số trong đó chắc chắn là vậy, và các tương tác ảo cũng mang lại những lợi ích riêng biệt, đặc biệt là đối với những người trẻ tuổi bị cô lập về mặt địa lý hoặc xã hội. Nhưng nhìn chung, thế giới ảo thiếu nhiều đặc điểm làm cho các tương tác của con người trong thế giới thực trở nên bổ dưỡng, có thể nói như vậy, đối với sự phát triển thể chất, xã hội và cảm xúc. Đặc biệt, các mối quan hệ và tương tác xã hội trong thế giới thực có bốn đặc điểm – vốn đã là điển hình trong hàng trăm ngàn năm – mà các tương tác trực tuyến bóp méo hoặc xóa bỏ.

Thứ nhất, các tương tác trong thế giới thực mang tính biểu hiện qua cơ thể (embodied), nghĩa là chúng ta sử dụng bàn tay và nét mặt để giao tiếp, và chúng ta học cách phản hồi ngôn ngữ cơ thể của người khác. Ngược lại, các tương tác ảo chủ yếu chỉ dựa vào ngôn ngữ. Dù cho có cung cấp bao nhiêu biểu tượng cảm xúc (emoji) để bù đắp, việc loại bỏ các kênh giao tiếp mà chúng ta có sự lập trình tiến hóa qua hàng vạn kỷ nguyên có khả năng sinh ra những người trưởng thành ít thoải mái và kém kỹ năng hơn khi tương tác trực tiếp.

Thứ hai, các tương tác trong thế giới thực mang tính đồng bộ; chúng xảy ra cùng một lúc. Kết quả là, chúng ta học được những tín hiệu tinh tế về thời gian và sự luân phiên trong cuộc trò chuyện. Các tương tác đồng bộ khiến chúng ta cảm thấy gần gũi hơn với người kia bởi vì đó là tác dụng của việc “đồng điệu”. Tin nhắn, bài đăng và nhiều tương tác ảo khác thiếu đi tính đồng bộ. Có ít tiếng cười thực sự hơn, nhiều không gian hơn cho sự hiểu lầm và căng thẳng gia tăng sau một bình luận không nhận được phản hồi ngay lập tức.

Thứ ba, các tương tác trong thế giới thực chủ yếu liên quan đến giao tiếp một đối một, hoặc đôi khi một đối nhiều. Nhưng nhiều thông tin liên lạc ảo được phát đi cho một lượng khán giả khổng lồ tiềm năng. Trên mạng, mỗi người có thể tham gia song song vào hàng tá tương tác không đồng bộ, điều này cản trở chiều sâu đạt được trong tất cả các tương tác đó. Động lực của người gửi cũng khác: Với lượng khán giả lớn, danh tiếng của một người luôn bị đe dọa; một lỗi lầm hoặc màn thể hiện kém có thể làm hỏng vị thế xã hội với lượng lớn bạn bè. Do đó, những giao tiếp này có xu hướng mang tính trình diễn hơn và gây lo âu hơn so với các cuộc trò chuyện một đối một.

Cuối cùng, các tương tác trong thế giới thực thường diễn ra trong các cộng đồng có rào cản ra/vào cao, vì vậy mọi người có động lực mạnh mẽ để đầu tư vào các mối quan hệ và hàn gắn sự rạn nứt khi chúng xảy ra. Nhưng trong nhiều mạng lưới ảo, mọi người có thể dễ dàng chặn người khác hoặc từ bỏ khi họ phật ý. Các mối quan hệ trong các mạng lưới như vậy thường dễ vứt bỏ hơn.

Những đặc điểm gây không hài lòng và tạo ra sự lo âu của cuộc sống trực tuyến này hẳn là dễ nhận ra đối với hầu hết người lớn. Tương tác trực tuyến có thể làm nảy sinh hành vi chống đối xã hội mà mọi người sẽ không bao giờ thể hiện trong cộng đồng ngoại tuyến của họ. Nhưng nếu cuộc sống trực tuyến gây tổn hại cho người lớn, hãy thử tưởng tượng xem nó sẽ làm gì đối với thanh thiếu niên trong những năm đầu dậy thì, khi bộ não “kỳ vọng trải nghiệm” của chúng đang tự kết nối lại dựa trên phản hồi từ các tương tác xã hội của chúng.

Những đứa trẻ trải qua tuổi dậy thì trên mạng có khả năng bị so sánh xã hội, tự ý thức, bị sỉ nhục công khai và lo âu mãn tính nhiều hơn hẳn so với thanh thiếu niên ở các thế hệ trước, điều này có khả năng khiến bộ não đang phát triển rơi vào trạng thái phòng thủ theo thói quen. Bộ não chứa các hệ thống chuyên biệt cho việc tiếp cận (khi có cơ hội vẫy gọi) và rút lui (khi xuất hiện các mối đe dọa hoặc có vẻ như có đe dọa). Tại bất kỳ thời điểm nào, con người có thể ở “chế độ khám phá” hoặc “chế độ phòng vệ”, nhưng nhìn chung không thể ở cả hai cùng một lúc. Hai hệ thống này cùng nhau tạo thành một cơ chế để nhanh chóng thích nghi với các điều kiện thay đổi, giống như một máy điều nhiệt có thể kích hoạt hệ thống sưởi hoặc hệ thống làm mát khi nhiệt độ dao động. Máy điều nhiệt bên trong của một số người thường được đặt ở chế độ khám phá, và họ chỉ chuyển sang chế độ phòng vệ khi có mối đe dọa rõ ràng phát sinh. Những người này có xu hướng nhìn thế giới như ngập tràn cơ hội. Họ hạnh phúc hơn và ít lo âu hơn. Máy điều nhiệt bên trong của những người khác lại thường được thiết lập ở chế độ phòng vệ, và họ chỉ chuyển sang chế độ khám phá khi cảm thấy an toàn một cách đặc biệt. Họ có xu hướng nhìn thế giới đầy rẫy hiểm họa và dễ mắc các chứng rối loạn lo âu cũng như trầm cảm.

Một cách đơn giản để hiểu sự khác biệt giữa Gen Z và các thế hệ trước là những người sinh từ năm 1996 trở đi có bộ điều nhiệt bên trong đã bị dịch chuyển sang chế độ phòng vệ. Đây là lý do tại sao cuộc sống trong khuôn viên các trường đại học thay đổi đột ngột như vậy khi Gen Z đặt chân đến, bắt đầu vào khoảng năm 2014. Sinh viên bắt đầu yêu cầu các “không gian an toàn” và “cảnh báo kích hoạt”. Họ cực kỳ nhạy cảm với các “hành vi vi bạo lực” và đôi khi tuyên bố rằng ngôn từ chính là “bạo lực”. Những xu hướng này đã làm bối rối những người trong chúng ta thuộc các thế hệ cũ vào thời điểm đó, nhưng khi nhìn lại, tất cả đều có lý. Sinh viên Gen Z thấy lời nói, ý tưởng và những cuộc gặp gỡ xã hội mơ hồ mang tính đe dọa nhiều hơn so với các thế hệ sinh viên trước đây bởi vì chúng ta đã thay đổi cơ bản sự phát triển tâm lý của họ.

Jonathan Haidt, “End the Phone-Based Childhood Now: The Environment in Which Kids Grow Up Today Is Hostile to Human Development,” The Atlantic, March 13, 2024. Adapted from The Anxious Generation: How the Great Rewiring of Childhood Is Causing an Epidemic of Mental Illness.

Bản dịch: Lm. GB. Lê Đình Phương, DCCT

Nguồn:https://www.theatlantic.com/…/teen-childhood…/677722/

Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận

Bài viết liên quan

0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x