Giáo Sĩ Trị Mềm (Soft clericalism)
Khi nghe chữ “giáo sĩ trị”, nhiều người thường nghĩ đến một thời Giáo hội nắm quyền lực chính trị, các giám mục điều hành xã hội, hay linh mục cai trị dân chúng như những ông vua “con”. Ngày nay, không còn quá nhiều nơi tồn tại hình thức giáo sĩ trị thô bạo như thế. Điều chúng ta quan tâm và lo ngại hơn là một dạng tinh vi hơn, khó nhận ra hơn, và đôi khi được khoác áo đạo đức, tốt lành, và thiêng liêng lắm. Đó là điều có thể được tạm gọi là “giáo sĩ trị mềm”. Nó “mềm” vì không bộc lộ rõ ràng, không “quan quyền” áp đặt công khai. Giáo dân không bị bắt buộc phải phục tùng bằng bạo lực. Và ai cũng biết, linh mục là người không hoàn hảo, nên dễ dàng du di bỏ qua những sai phạm nhỏ của hàng giáo sĩ. Nhưng trên thực tế, quyền lực tinh thần vẫn tập trung quá mức nơi hàng giáo sĩ, còn giáo dân thì bị giữ trong tình trạng lệ thuộc tâm lý và thiêng liêng. Đây không chỉ là vấn đề cơ cấu, mà là cả một não trạng lâu đời.
Trong truyền thống Kitô giáo, linh mục có vai trò rất quan trọng. Giáo hội luôn kính trọng chức thánh vì linh mục nắm vai trò lãnh đạo tinh thần, phục vụ bí tích, giảng dạy và chăm sóc “phần hồn” cho giáo dân. Tuy nhiên, truyền thống chân chính chưa bao giờ dạy rằng linh mục là người không thể sai, không thể bị chất vấn, hay có quyền đứng trên lương tâm cộng đoàn. Vấn đề bắt đầu khi người ta đồng hóa chức vụ với quyền lực tuyệt đối. Lúc đó, linh mục không còn được nhìn như người phục vụ, mà như trung tâm của giáo xứ; giáo dân không còn trưởng thành trong đức tin, mà trở thành những người lệ thuộc vào ý kiến của “cha”. Một giáo xứ bị giáo sĩ trị mềm thường có những dấu hiệu rất quen thuộc. Mọi chuyện đều xoay quanh linh mục: cha thích làm gì thì cha làm, cha tạo ra hết dự án này đến chương trình nọ mà không hề tham khảo ý kiến giáo dân, cha thích bài hát nào thì các ca đoàn cứ thế chọn hát bài đó, cha không thích ai thì người đó bị loại ra bên lề, cha quyết định tài chính mà không cần minh bạch, và giáo dân dần dần học cách im lặng. Không cần ai ép buộc, bầu khí tự nó tạo ra sự sợ hãi nhẹ nhàng nhưng rất thật. Người ta bắt đầu nói: “Cha nói vậy chắc đúng rồi đó!” “Đừng cãi cha! Cha nói sao thì cứ làm theo đi!” “Đừng nói xấu cha, “đụng” đến cha là phạm tội nặng đó!” “Vâng lời cha là vâng lời Chúa.” Và thế là đức vâng phục bị biến dạng, sai lệch cách trầm trọng.
Trong Kitô giáo đích thực, vâng phục không có nghĩa là từ bỏ lương tâm. Thánh Tôma Aquinô chưa bao giờ dạy vâng phục mù quáng. Các thánh lớn của Giáo hội cũng từng chất vấn giáo quyền khi cần thiết. Ngay cả Thánh Phaolô cũng đã công khai phản đối Thánh Phêrô trong thư Galát khi thấy Tin Mừng bị đe dọa. Điều đó có nghĩa là, theo truyền thống Giáo hội chân chính, chân lý phải luôn cao hơn quyền lực. Nhưng trong giáo sĩ trị mềm, người ta đảo ngược điều đó: quyền lực được thiêng liêng hóa để tránh khỏi bị chất vấn, và cứ thế tha hồ tự tung tự tác.
Điều nguy hiểm là giáo sĩ trị mềm thường dùng ngôn ngữ rất đẹp: “vì sự hiệp nhất”, “vì khiêm nhường”, “vì bác ái”, “vì Chúa”,… Tất cả đều nghe có vẻ đúng. Nhưng đôi khi những lời đó chỉ nhằm giữ im lặng, tránh minh bạch và bảo vệ uy tín cơ chế. Lịch sử Giáo hội cho thấy nhiều vụ lạm dụng kéo dài hàng chục năm không phải vì không ai biết gì, mà vì quá nhiều người sợ nói. Họ sợ làm mất danh dự Giáo hội. Họ sợ chống lại linh mục. Họ sợ bị xem là kém đức tin. Nói cách khác, giáo sĩ trị mềm tạo ra một nền văn hóa nơi quyền lực được bảo vệ bằng sự đạo đức hóa.
Giáo sĩ trị không chỉ do linh mục tạo ra, mà giáo dân cũng góp phần không nhỏ tạo ra và nuôi dưỡng nó. Nhiều người thích một Giáo hội nơi mọi quyết định đều do “cha” làm, để họ khỏi phải suy nghĩ, khỏi phải chịu trách nhiệm, khỏi phải trưởng thành, khỏi phải đối diện với sự phức tạp của lương tâm. Đó là cám dỗ rất “trẻ con” mà nhiều người mắc phải: muốn có ai đó quyết định thay cho mình. Nhưng hậu quả là một cộng đoàn thiếu trưởng thành thiêng liêng. Đức tin biến thành sự lệ thuộc cảm xúc vào một nhân vật hơn là gắn bó với Lời Chúa, nên một với Đức Kitô. Khi linh mục được thuyên chuyển đi nơi khác, cộng đoàn bị khủng hoảng. Khi linh mục sa ngã, đức tin của giáo dân suy sụp. Điều đó cho thấy nền tảng đã đặt sai chỗ mất rồi.
Trong bối cảnh châu Á Thái Bình Dương, giáo sĩ trị mềm càng dễ phát triển vì văn hóa truyền thống rất coi trọng người có chức vị. Người lớn tuổi, trưởng tộc, hay người lãnh đạo thường được kính trọng gần như tuyệt đối. Điều này có mặt tích cực: giữ được trật tự, cộng đồng và sự hòa hợp. Nhưng mặt trái là người ta ngại đối đầu, ngại phản biện, ngại nói lên sự thật. Nhiều cộng đoàn Công giáo ở vùng châu Á Thái Bình Dương sống rất thân tình theo kiểu gia đình. Nhưng chính tính gia đình đó đôi khi làm sai phạm bị che giấu lâu dài. Người ta không muốn “mất mặt”, không muốn làm xấu cộng đoàn, không muốn gây chia rẽ. Và hậu quả là, sự thật bị trì hoãn, nạn nhân bị cô lập, còn quyền lực thì cứ nhởn nhơ tiếp tục tồn tại dai dẳng.
Cố Giáo hoàng Francis nhiều lần cảnh báo rằng giáo sĩ trị là một trong những căn bệnh nguy hiểm nhất của Giáo hội hiện đại. Ngài nói rằng nó làm biến dạng chức linh mục và làm giáo dân bị đối xử như trẻ con, không được trưởng thành trong trách nhiệm đức tin. Đức Phanxicô không hề chống lại chức linh mục, ngài chống lại não trạng biến chức linh mục thành địa vị thống trị. Linh mục đúng nghĩa không phải là “ông chủ thiêng liêng”. Người linh mục đúng nghĩa là người phụng sự Thiên Chúa qua việc phục vụ bí tích và phục vụ cộng đoàn, là người đồng hành với giáo dân trong mọi hoàn cảnh, là người bảo vệ cộng đoàn khỏi chính quyền lực mà cơ cấu trao cho mình. Một linh mục trưởng thành không sợ bị chất vấn một cách lịch sự và tôn trọng. Một cộng đoàn trưởng thành thì không bao giờ thần tượng hay thần thánh hóa các linh mục cả.
Giải pháp cho giáo sĩ trị mềm không đơn giản là thêm luật lệ hay thêm quy định hành chính. Vấn đề sâu hơn là phải thay đổi văn hóa, thay đổi não trạng. Giáo hội cần những linh mục biết khiêm nhường tự giới hạn quyền lực của mình, giáo dân trưởng thành trong lương tâm, cơ cấu minh bạch, khả năng đối thoại thật sự, và sự phân biệt rõ ràng giữa chức vụ phục vụ với quyền lực cá nhân. Nếu không, giáo sĩ trị sẽ chỉ đổi hình thức, còn cốt lõi bên trong thì vẫn y nguyên. Nó có thể rất hiện đại, rất thân thiện, rất mục vụ, rất “đồng hành”, nhưng bên dưới vẫn là nhu cầu kiểm soát con người bằng quyền lực tinh thần. Thật ra, giáo dân là linh mục cộng đồng, còn giáo sĩ chỉ là linh mục thừa tác thôi. Cả hai cần có nhau và cùng nhau thờ phượng Thiên Chúa, chứ không có chuyện “bên trọng bên khinh”, bên nào cao hơn bên nào. Người linh mục lãnh nhận chức thánh là để phục vụ, chứ không phải để cai trị, ăn trên ngồi trốc, chỉ tay năm ngón, còn giáo dân cứ thế cum cúp vâng theo. Không có giáo dân thì làm gì có giáo sĩ! Nếu cả giáo sĩ lẫn giáo dân đều biết nghĩ như những gì bài viết này gợi ý, thì hy vọng một ngày không xa, tình trạng giáo sĩ trị, dù “cứng” hay “mềm”, sẽ chấm dứt. Thiệt là mong lắm thay!
* Lm. Vui Chứng Nhân.
(Nguồn: FB Don Joy)

